Quẻ Ly, Bát Thuần Ly – Quẻ dịch số 30, Ý nghĩa và giải thích

Camera giám sát cho thang máy chất lượng cao
26 Tháng Năm, 2017
Sản phẩm túi đeo tay chống nước cho điện thoại di động
Túi đeo tay chống nước cho điện thoại di động
29 Tháng Năm, 2017
Quẻ Ly, Bát Thuần Ly - Quẻ dịch số 30, Ý nghĩa và giải thích

Quẻ Ly, Bát Thuần Ly - Quẻ dịch số 30, Ý nghĩa và giải thích

Quẻ Ly như mặt trời trên cao, sáng láng, rực rỡ, trăm hoa đua nở. Mọi giả dối, thâm hiểm sẽ bị đập tan là hình tượng quẻ Bát Thuần Ly.

Tài cao hãy nhún chớ khoe khoang

Thuận thảo theo người sẽ phú sang

Trời đất dưới trên người ở giữa

Chính trung nhân đạo đẹp vô vàn

Có thể bạn cần tham khảo thêm Quẻ Lôi Phong Hằng

Hoặc tham khảo thêm   Quẻ Bát Thuần Khảm

Quẻ Bát Thuần Ly giải nghĩa

Quẻ Bát Thuần Ly, thượng quái là quẻ Ly, quẻ Ly giữa rỗng, suy rộng ra có tượng là cái lưới đánh cá, lưới có nhiều lỗ hổng. Quẻ hạ cũng là Ly, quẻ Ly hai hào dương bao quanh một hào âm nên có tượng ngoài cứng trong mềm, suy rộng ra là có tượng con cá, con chim, con cá vẩy cứng ruột mềm…

Trong lưới có cá, có chim, tượng trưng cho sự săn bắt. Trên Giáp cốt văn, chữ Ly có hình tượng dùng lưới săn bắt muông thú, đủ thấy nghĩa ban đầu của Ly là tượng dùng lưới săn bắt. Sau đó mới suy ra nghĩa “ly biệt”, tức là bởi bị săn bắt là cá rời khỏi nước, chim xa rời rừng…

Quẻ này gọi là Bát Thuần Ly, trên dưới đều là quẻ Ly (Lửa).

Có thể bạn cần tham khảo thêm Quẻ Lôi Phong Hằng

Thoán từ quẻ Bát Thuần Ly

Ly, Lợi trinh, Hanh, Súc tẫn ngưu, Cát. (利 貞, 亨, 畜 牝 牛, 吉)

Dịch nghĩa Quẻ Bát Thuần Ly: Đi xem bói để biết việc cúng tế thì rất có lợi, nên nuôi bò, cái để làm vật tế ( cho thần linh) thì sẽ gặp chuyện may mắn.

Giải thích lời thoán quẻ Bát Thuần Ly

“Ly” (離) trong Bạch Thư Chu Dịch chép là “”a” (羅) (chữ giả tá cận âm của ly). “La” theo Lý Đỉnh Tộ phiên thiết là “ly” (lân tri thiết), Âm và nghĩa đều tương đồng như “ly” (離) . Tự Quái Truyện giảng “ly” là “lệ thuộc” (ly giả, lệ dã). Thoán Truyện và Thuyết Quái cũng giảng tương tự….

Trương Lập Văn trích dẫn “ly” tức là “lệ thuộc, bám víu lẫn nhau” (ly vi tương phụ lệ) nhưng ông không đồng ý với cách giảng này mà cho rằng trong “Bạch Thư Chu Dịch đã chép là “la” mà “la” thì có nghĩa là “gặp nạn” (ly nạn tao họa). Xin tham khảo phần tổng luận ở cuối quẻ Bát Thuần Ly để biết thêm quan điểm này.

Lý Đỉnh Tộ dẫn Tuân Sảng viết: Âm lệ thuộc dương, lệ thuộc lẫn nhau vậy, Cũng có nghĩa là biệt ly, tách âm và dương vậy. (Âm lệ vu dương, tương phụ lệ dã, diệc vi biệt ly dĩ âm cách dương dã).

“Ly” (離) có nghĩa là “lửa”, do mộc mà có, tức là phải lệ thuộc mộc vậy (ly giả, hỏa dã, thác vu mộc, thị kỳ phụ lệ dã). Nhưng khi đã cháy xong thì khói bay lên trời, tro than xuống đất, đó là chuyện chia cách âm dương vậy (yên diễm phi thiên, thán khôi giáng trệ, thị kỳ biệt ly dã). Đó là cách giảng của Tuân Sảng. Ông cũng giảng “tẫn ngưu” (牝 牛) là “bò cái” (tẫn giả, âm tính dã). Ngày nay gọi là “mẫu ngưu”.

Cổ nhân Trung Quốc nuôi bò cái để dùng vào việc tế tự, điều này phản ảnh rõ trong Chu Lễ và Lễ Ký, nên câu trên nói đến chuyện cúng tế.

Trương Lập Văn dịch câu “lợi trinh, hanh, súc tẫn ngưu, cát” (利 貞, 亨, 畜 牝 牛, 吉) như sau: “Có lợi khi đi xem bói, làm lễ cúng tế, nếu nuôi bò cái để làm vật cúng tế, chắc chắn sẽ gặp may” (lợi vu chiêm vấn, hưởng tế, yếu súc dưỡng mẫu ngưu vi tế phẩm, tắc cát tường).

James Legge dịch câu trên hoàn toàn khác như sau: Quẻ Bát Thuần Ly cho thấy rằng có lợi khi gìn giữ kiên định và trung chính, và như thế sẽ có hoạt động tự do và thành công, hãy nuôi dưỡng tính hiền lành như tính bò cái, sẽ gặp may mắn.

Trương Thiện Văn và Hoàng Thọ Kỳ dịch: “Có lợi khi giữ gìn sự kiên định và trung chính, mọi sự hanh thông, nuôi bò cái có thể gặp may” (lợi ư thủ trì chính cố, hanh thông, súc dưỡng mẫu ngưu khả hoạch cát tường).

Wilhelm nhận xét về quẻ Bát Thuần Ly như sau: “Quẻ Bát Thuần Ly cũng là một quẻ kép (hai quẻ Ly chồng lên nhau). Quẻ Ly có nghĩa là “bám chặt vào”, “bị quy định bởi”, “tùy thuộc hay dựa trên” và cũng có nghĩa là “Sáng rực”. Một vạch âm bám chặt lấy hai vạch dương, một trên một dưới, đó là hình tượng một khoảng trống nằm giữa hai hào dương, nhờ đó hai hào dương được sáng rực lên. Mỗi quẻ tượng trưng cho đứa con gái nằm ở giữa. Quẻ Càn đã hấp thu hào giữa của quẻ Khôn và như thế Ly được phát triển.

Ly là lửa. Lửa không có hình thể xác định, nó bám chặt vào vật cháy và nhờ đó mới tỏa ánh sáng. Cũng như nước xối xuống từ trời cao, lửa phun lên từ mặt đất. Trong khi quẻ Khảm tượng trưng cho linh hồn bị khóa cứng trong xác thân, thì quẻ Ly tượng trưng cho thiên nhiên bừng sáng lộng lẫy.

Lời tượng quẻ Bát Thuần Ly

Minh lưỡng tác, Ly, Đại nhân dĩ kế minh chiếu vu tứ phương. (明 兩 作, 離, 大 人 以 繼 明 照 于 四 方)

Dịch nghĩa: Hai mặt trời cùng nhau tỏa sáng, đó là hình tượng quẻ Bát Thuần Ly, đại nhân xem hình tượng nối tiếp nhau rọi sáng bốn phương mà thiết kế sự cai trị thiên hạ sao cho ánh sáng (văn minh) được truyền đi khắp nơi.

Đại tượng quẻ Ly - Bát Thuần Ly - Thời đại Văn minh - Cái Tốt Đẹp sẽ thắng cái Ác

Đại tượng quẻ LyBát Thuần Ly – Thời đại Văn minh – Cái Tốt Đẹp sẽ thắng cái Ác

Giải thích lời tượng quẻ Bát Thuần Ly

Wilhelm giảng “minh lưỡng tác” (明 兩 作) là “cái tỏa sáng nổi lên hai lần”. Có nghĩa là hai quẻ Ly chồng lên nhau tượng trưng cho hai mặt trời tỏa sáng.

Trương Thiện Văn và Hoàng Thọ Kỳ giảng “minh lưỡng tác” là “ánh dương quang nối nhau vươn lên” (quang minh tiếp liên thăng khởi) và “ly” (離) là “treo giữa trời cao” (huyền phụ cao không).

“Kế minh” (繼 明) được Quách Dương giảng là: “Nhật nguyệt theo nhau mà tỏa sáng” (nhật nguyệt tương kế nhi minh) và cho rằng “kế minh” cũng đồng nghĩa với “minh lưỡng tác”. Như vậy câu “đại nhân dĩ kế minh chiếu vu tứ phương” là “đại nhân bắt chước theo tính cách nhật nguyệt nối nhau rọi sáng cho con người trị vì thiên hạ” (đại nhân môn hiệu nhật nguyệt chi tương kế chiếu nhân vi trị thiên hạ.

Wilhelm dịch câu trên là “đại nhân, bằng cách duy trì vẻ rực rỡ này, đã soi sáng cho cả bốn phương”. Ông giảng: Đại nhân tiếp tục công việc của tự nhiên trong thế giới nhân văn. Thông qua bản chất tỏa sáng của mình, ông khiến cho ánh sáng mỗi lúc một truyền xa hơn và thâm nhập vào bản chất của mọi người khác một cách sâu sắc hơn.

Quẻ Bát Thuần Ly Hào Sơ Cửu

Lời hào Sơ Cửu quẻ Bát Thuần Ly viết:

Sơ Cửu. Lý thác nhiên, Kính chi, Vô cữu. (履 錯 然 . 敬 之, 無 咎).

Dịch nghĩa: Hào Sơ Cửu quẻ Bát Thuần Ly là hào dương, có nghĩa là: Bước chân (khi làm lễ) đi rón rén thận trọng, lại thêm tâm tư thành kính, ( cúng tế như thế mới) không có lỗi.

Hào Sơ Cửu quẻ Bát Thuần Ly

Hào Sơ Cửu quẻ Bát Thuần Ly

Giải thích hào Sơ Cửu quẻ Bát Thuần Ly

Trương Thiện Văn và Hoàng Thọ Kỳ giảng “lý thác nhiên” (履 錯 然) là “làm công việc nghiêm túc một cách thận trọng, không cẩu thả. (tiễn hành sự vụ trịnh trọng bất cẩu).

Vương Bật chú “thác nhiên” (錯 然) là vẻ mặt kính cẩn thận trọng. (kính thận chi mạo). Thượng Bỉnh Hòa giảng “thác nhiên” là “có ý nghiêm túc, không cẩu thả” (hữu trịnh trọng, bất cẩu chi ý).

Wilhelm chắc không tham khảo cổ chú này nên dịch “lý thác nhiên” là dấu chân chạy lộn xộn đan chéo nhau.

Từ Tử Hùng giảng “thác nhiên” là “lộn xộn” (tạp loạn 雜 亂) cũng giống như Wilhelm.

Phan Bội Châu dịch “lý thác nhiên” là “xâu giày nhố nhăng”. Bản Bạch Thư Chu Dịch chép “lễ” (禮) thay cho “lý” (履) , chép “tích” (昔) thay cho “thác” (錯) , nhưng cũng là các từ giả tá cận âm, nghĩa không khác.

Quẻ Bát Thuần Ly Hào Lục Nhị

Lời hào Lục Nhị quẻ Bát Thuần Ly viết:

Lục nhị. Hoàng Ly. Nguyên cát. (黃 離. 元 吉)

Dịch nghĩa: Hào 2 quẻ Bát thuần Ly là hào âm: Ánh sáng màu vàng (có thể là cầu vồng màu vàng) xuất hiện giữa trời cao, đó là điềm triệu cực tốt vậy.

Hào Lục Nhị quẻ Bát Thuần Ly

Hào Lục Nhị quẻ Bát Thuần Ly

Giải thích hào Lục Nhị quẻ Bát Thuần Ly

Thuyết văn giải tự giảng “ly” (離) là một loại chim vàng anh màu vàng khi hót lên thì con tằm sinh ra. (ly, hoàng thương canh dã, minh tắc tàm sinh).

Cao Hanh cho rằng “ly” (離) trong trường hợp này là chữ giả tá cận âm của chữ “ly” (螭) (âm Bắc Kinh hiện đại là /chi/ ) có nghĩa là “rồng” (long 龍), có nghĩa là khí mây giống như hình con rồng, tức là một loại cầu vồng, chuyển âm thì đọc là “nghê” (霓) (cầu vồng, âm Bắc Kinh hiện đại là /ni/), như vậy “hoàng ly” (黃 離) tức là “hoàng nghê” (黃 霓) (cầu vồng có sắc vàng).

Wilhelm dịch “hoàng ly” là ánh sáng màu vàng. Màu vàng là màu may mắn (cát tường chi sắc).

Trương Lập Văn giảng “hoàng ly” là “thần núi hình thú” (thú hình sơn thần) và dịch hào trên như sau: “Xuất hiện thần núi hình thú, lúc đầu sẽ gặp may” (Xuất hiện thú hình sơn thần, thủy tiện cát tường). Cách dịch này chưa từng thấy bao giờ, ngoại trừ trong Cao Hanh.

Từ Tử Hùng dịch hợp lý hơn: Trên trời cao xuất hiện cầu vồng màu vàng, đại cát đại lợi. (thiên không xuất hoàng nghê, đại cát đại lợi).

Trương Thiện Văn và Hoàng Thọ Kỳ dịch rất xa nguyên tác: Bảo trì màu vàng trung chính, lệ thuộc vào sự vật, rất may mắn. (bảo trì trung chính đích hoàng sắc phụ lệ ư vật, chí vi cát tường).

Quẻ Bát Thuần Ly Hào Cửu Tam

Lời hào Cửu Tam quẻ Bát Thuần Ly viết:

Nhật trắc chi Ly. Bất cổ phẫu nhi ca. Tắc đại điệt chi ta. Hung. (日 昃 之 離. 不 鼓 缶 而歌. 則 大 耋 之 嗟. 凶)

Dịch nghĩa: Hào dương 3 quẻ Bát Thuần Ly: Ánh sáng mặt trời đã sắp tàn, trên trời còn xuất hiện cầu vồng, không đánh trống ca hát (để cầu xin mặt trời ở lại), chắc hẳn ngay cả ông già tám mươi cũng phải than khóc sầu thảm, ( vì) chuyện không may sẽ xảy đến.

Hào Cửu Tam quẻ Bát Thuần Ly

Hào Cửu Tam quẻ Bát Thuần Ly

Giải thích hào Cửu Tam quẻ Bát Thuần Ly

“Nhật trắc” (日 昃) có nghĩa là “mặt trời sắp lặn” (thái dương tương lạc) hay đang nghiêng dần về phía Tây (thái dương thiên tây). Cao Hanh giảng “ly” (離) là “thú của thần núi” (sơn thần thú) xuất hiện vào lúc mặt trời lặn (kiến ư nhật trắc chi thời).

“Cổ phẫu nhi ca” (鼓 缶 而歌) có nghĩa là vỗ hay gõ vào nhạc cụ bằng sành mà ca theo. Từ Tử Hùng giảng rằng: Trong thời cổ khi thấy vào lúc mặt trời xế chiều trên bầu trời lại xuất hiện cầu vồng xem đó là điềm xấu nên ca hát gõ trống để tống tiễn. (Cổ nhân nhận vi nhật trắc thời nghê hồng tại thiên thị hung triệu, ứng xướng xa kích cổ dĩ nhương trừ chi).

Chữ “điệt” (耋) (âm Bắc Kinh hiện đại là /dié/) theo Lục Đức Minh dẫn Mã Dung giảng
là “bảy mươi tuổi” (thất thập viết diệt 七 十 曰 耋). Vương Túc giảng “tám mươi gọi là diệt” (bát thập viết điệt).

Trương Thiện Văn và Hoàng Thọ Kỳ dịch hào trên như sau: Mặt trời sắp lặn, treo lơ lửng ở phía tây, vào lúc này nếu không gõ đánh đồ dùng bằng sành, vui vẻ ca hát thì chỉ còn nước ngồi than khóc cho tuổi già suy bại, gặp hung hiểm. (thái dương tương lạc, thùy thùy phụ lệ tại tây phương, thử thời yếu thị bất xao khởi phẫu khí, di nhiên tác ca tự lạc, tất tương đạo chí lão mộ cùng suy đích ta thán, hữu hung hiểm). Wilhelm dịch tương tự.

Chúng tôi cho rằng mặt trời là nguyên tố thái dương, nhưng đây là buổi chiều tà, hôn ám vô quang, cộng thêm cầu vồng xuất hiện, tượng trưng cho thế lực mới đang nổi lên tranh chấp với mặt trời khi mặt trời đang yếu thế, nếu không tích cực tìm cách lưu giữ ánh sáng thái dương thì sự hôn ám sẽ tràn ngập, ngay cả người già cũng khó tránh được tai kiếp.

Quẻ Bát Thuần Ly Hào Cửu Tứ

Lời hào Cửu Tứ quẻ Bát Thuần Ly viết:

Đột như kỳ lai như. Phần như. Tử như. Khí như. (突 如 其 來 如 . 焚 如 . 死 如 . 棄 如)

Dịch nghĩa: Hào dương 4 quẻ Bát Thuần Ly chủ về (Tai nạn) đột nhiên ập tới, (kẻ thù thấy nhà là) đốt sạch, (thấy người là) giết sạch, (nơi chốn cư ngụ giờ đây) chỉ còn là một nơi hoang phế.

Hào Cửu Tứ quẻ Bát Thuần Ly

Hào Cửu Tứ quẻ Bát Thuần Ly

Giải thích hào Cửu Tứ quẻ Bát Thuần Ly

Chữ “như” (如) trong câu trên hoàn toàn là trợ từ ngữ khí, không có nghĩa. “Đột như” (突 如) là tai nạn đột nhiên giáng xuống. (tai nạn đột nhiên giáng lâm).”Phần như” (焚 如) là đốt sạch. “Tử như” (死 如) là giết sạch. “Khí như” (棄 如) là đem vứt bỏ thôi.

Câu này quá ngắn gọn nên có rất nhiều thuyết giải khác nhau. Trương Thiện Văn và Hoàng Thọ Kỳ dịch như sau: Đột nhiên ánh ráng chiều đỏ rực xuất hiện, giống như ánh lửa rực rỡ nơi đám cháy, nhưng trong khoảnh khắc là bị tiêu ma tận diệt, chẳng còn lại chút gì. (đột nhiên thăng khởi hỏa hồng đích thôn hà, tượng liệt diệm tại phần thiêu, đán khoảnh khắc gian hựu tiêu tán diệt vong, bị khí trừ tịnh tận).

Wilhelm dịch là: Nó đến đột ngột, nó cháy, nó tàn, và bị quăng ném đi.

Chúng tôi liên kết với ý nghĩa hào Cửu Tam để dịch hào này. Trong hào Cửu Tam một sự đe dọa đã xuất hiện dưới hình thức một ngọn cầu vồng xâm lấn vào ánh tà dương đang suy yếu và bây giờ sự đe dọa đã trở thành hiện thực, đã được cụ thể hóa bằng hành động.

Trương Lập Văn đã dịch hào trên như sau: Kẻ thù đột nhiên tấn công, đốt nhà, giết người, phá hoại làng xóm. (Địch nhân đột nhiên xung quá lai, nhiên điệu phòng tử, sát tử nhân, phá hoại liễu thôn tử). Chúng tôi cho đây là bản dịch hợp lý nhất.

Quẻ Bát Thuần Ly Hào Lục Ngũ

Lời hào Lục Ngũ quẻ Bát Thuần Ly viết:

Xuất thế đà nhược. Thích ta nhược. Cát. (出 涕 沱 若. 戚 嗟 若. 吉)

Dịch nghĩa: Hào Âm 5 quẻ Bát Thuần Ly chủ về Tai nạn đã qua, mọi người gào khóc, nước mắt như mưa, than thở ưu tư, nhưng (như thế là tai nạn đã chấm dứt) nên đây là chuyện may mắn.

Hào Lục Ngũ quẻ Bát Thuần Ly

Hào Lục Ngũ quẻ Bát Thuần Ly

Giải thích hào Lục Ngũ quẻ Bát Thuần Ly

Chữ “Thế” (涕) (âm Bắc Kinh hiện đại là /ti/) có nghĩa là “nước mắt” (nhãn lệ). Chữ “đà” (沱) âm Bắc Kinh hiện đại là /tuó/) có nghĩa là “nước mắt rơi như mưa” (lệ như vũ hạ đích dạng tử). “Thích” (戚) có nghĩa là “lo lắng u sầu” (ưu, bi thích).

Hào này thể hiện hậu quả việc tàn phá chém giết trong hào Cửu Tứ:

Sau khi bọn xâm lược rút đi, chỉ còn lại tiếng gào khóc và nước mắt.

Trương Lập Văn dịch: Gào khóc lệ rơi, đau xót than vãn, hết thời bĩ đã đến thời thái, kết quả may mắn. (khốc khấp nhi lưu lệ, ưu thương nhi thán tức, bĩ cực thái lai, kết quả cát
tường).

Quẻ Bát Thuần Ly Hào Thượng Cửu

Lời hào Cửu Thượng quẻ Bát Thuần Ly viết:

Vương dụng xuất chinh. Hữu gia chiết thủ. Hoạch phỉ kỳ xú. Vô cữu. (王 用 出 征 . 有 嘉 折 首 . 獲 其 匪 丑 . 無 咎)

Dịch nghĩa: Hào dương Thượng Cửu quẻ Bát Thuần Ly chủ về Vua đem quân chính phạt, có được tin vui thắng trận, chặt đầu quân giặc, bắt được nhiều tù binh làm nô lệ, không có gì sai trái (trong chuyện chinh phạt này)

Hào Cửu Thượng quẻ Bát Thuần Ly

Hào Cửu Thượng quẻ Bát Thuần Ly

Giải thích hào Cửu Thượng quẻ Bát Thuần Ly

“Hữu gia” (有 嘉) Từ Tử Hùng giải thích là “tên nước thời Chu sơ” (Chu sơ quốc danh) và cho rằng đây chỉ quân xâm lược trong hai hào trên (giá lý chỉ thượng văn sở thuyết đích xâm lược giả).

Khổng Dĩnh Đạt giảng “gia” (嘉) là làm cho tốt đẹp hơn. (gia mỹ chi công). Trương Lập Văn giảng là “chuyện vui mừng” (hỷ khánh chi sự).

“Chiết thủ” (折 首) là “chặt đầu” (trảm thủ). “Phỉ kỳ xú” (其 匪 丑) Trương Thiện Văn và Hoàng Thọ Kỳ giảng là “phi kỳ loại” hay “dị kỷ” (異 己) (không phải cùng loại với mình). ” Xú” (丑) theo Lý Đỉnh Tộ dẫn Ngu Phiên giảng là “loại” (類) (xú, loại dã). “Hoạch bất xú” (獲 不 類) có nghĩa là “bắt được tù binh” (hoạch đắc phu lỗ).

Wilhelm dịch hào này khác hẳn: Vua dùng hắn ta để tiến quân và trừng phạt. Kế đến tốt nhất là giết hết bọn lãnh đạo. Và bắt những kẻ theo chúng làm tù binh. Không có lỗi).

Wilhelm giảng: Mục đích của việc thanh trừng không phải là áp đặt sự trừng phạt một cách mù quáng mà là để tạo ra kỷ cương. Tội lỗi phải được chữa trị tận gốc. Để quét sạch tội ác trong cuộc sống chính trị, điều tốt nhất là giết bọn đầu sỏ và tha mạng cho bọn đệ tử đi theo.

Trong việc tự giáo dục bản thân, điều tốt nhất là loại bỏ những thói quen xấu và dung thứ cho những thói quen vô hại. Vì sự khổ hạnh quá nghiêm khắc, giống như các bản án quá nặng, sẽ thất bại không đạt được mục đích nào của nó.

Ngán lâu nay thấy sáng ngời

Hoàn cầu hội mới mở thời văn minh

Đàm Gia Đức trong Chu Dịch thiển thuyết tổng luận về quẻ Bát Thuần Ly như sau: “Ly tức là lửa, lửa có thể gây tai họa, cũng có thể rọi chiếu bốn phương, có nghĩa là lửa có mặt hữu dụng cũng như mặt phá hoại đối với loài người. Con người dùng lửa để chiếu sáng, nấu nướng, đề phòng dã thú v.v… lửa có thể vì nhân loại tạo phúc, ngược lại, nếu không biết sử dụng lửa thích đáng, có thể dẫn đến hỏa hoạn, thậm chí đùa với lửa có ngày cháy mất xác.

Cho nên cần phải hiểu rõ cách sử dụng lửa, dùng đúng thì có lợi, dùng sai có hại”. (Ly vi hóa, hỏa năng dẫn chí tai họa, dã năng quang chiếu tứ phương, thuyết minh hỏa ký hữu hữu ích vu nhân loại đích nhất diện, dã hữu hữu hại vu nhân loại đích nhất diện. Nhân môn dụng hỏa lai chiếu minh, phanh nhẫm, phòng ngự dã thú đẳng đẳng, hỏa tựu khả dĩ vị nhân tạo phúc, phản chi, dụng chi bất đáng, tắc khả dĩ dẫn khởi hỏa tai, thậm chí ngoạn hỏa tự phần. Sở dĩ, yếu khán như hà sử dụng giá cá hỏa, dụng chi chính xác tắc hữu lợi, bất chính xác tắc hữu hại)

Trương Lập Văn căn cứ trên Bạch Thư Chu Dịch chép chữ “la” (羅) thay cho chữ “ly” (離) nên thuyết minh quẻ Bát Thuần Ly khác hẳn như sau: “Quẻ Bát Thuần Ly này thông qua hiện tượng đặc biệt của chiến tranh và thế giới tự nhiên để thuyết minh về quẻ Ly. Ly có nghĩa là bám theo, phụ theo, đối với ý nghĩa quẻ này thực ra không có quan hệ lắm. Bạch Thư Chu Dịch chép “la” (羅) . Trong Kinh Thi (bài Thố Viên) có viết: “Trĩ ly vu la” (gà rừng sa vào lưới). Mao truyện giảng là “lưới bắt chim gọi là la” (điểu võng viết la). Nhĩ Nhã Thích khí có viết: “Lưới chim gọi là la” (điếu cổ vị chi la).

Lý Đỉnh Tộ chú giảng: “Chim bay giăng lưới bắt nó” (điểu phi trương võng dĩ la chi). Chim đã sa vào trong lưới, không còn tự do bay nhảy, gặp nguy cơ bị người bắt giết, cho nên ý nghĩa mở rộng là sự vướng vào tai nạn, gặp họa. “La” (羅) hay “ly” (離) đều có nghĩa gặp nạn.

Trong hào từ Cửu Tam nói chuyện mặt trời khi nghiêng về phía Tây, mặt trời bản chất có dư ánh sáng, nhưng nay rơi vào cảnh hôn ám vô quang, tức là mặt trời đã gặp nạn vậy. Cũng như hiện tượng nhật thực, thời xưa cho rằng mặt trời đã bị thiên cẩu ăn mất, mọi người cần phải gõ bồn đánh trống hò hét om sòm để hù dọa thiên cẩu chạy đi, giữ lại mặt trời, cho nên hào này mới nói đến việc “cổ phẫu nhi ca” để cứu vãn hiện tượng kỳ quái mặt trời xế về phương tây, vạn vật tối tăm.

Hào Cửu Tứ và Lục Ngũ đều giảng việc con người vướng vào tai nạn chiến tranh. (Bản quái thông quá chiến tranh hòa tự nhiên giới đích quái dị, lai thuyết minh Ly, Ly tác phụ lệ, phụ trước, nhi thực dữ bản quái văn ý vô thậm quan hệ). Bạch Thư_Chu Dịch tác “”a”, Thi Thố Viên: “Trĩ ly vu la”. Mao truyện: “Điểu võng viết la”. Nhĩ Nhã Thích khí: “Điểu cổ vị chi la”. Lý chú: “La, điểu phi trương võng dĩ la chi”. Điểu bị võng la sở la trụ, tiện thất khứ liễu tự do phi tường, hữu bị nhân tróc sát đích nguy hiểm. Nhân thử la dẫn thân vi ly nạn, tao họa đích ý tứ. La, ly giai hữu ly nghĩa. Cửu tam hào từ ngôn nhật tây trắc chi thời, nhật ưng hữu dư huy, nhiên nhi giai ám vô quang, tắc thị nhật ly nạn dã. Do ư phát sinh nhật thực, cựu thời dĩ vi thái dương bị thiên cầu giảo trụ liễu, nhân môn tất tu cổ bồn kích khí, hô hào nột hãm, hách bào thiên cẩu, lưu hạ thái dương. Bản hào diệc yếu cổ phẫu ai ca lai vãn cứu nhật tây trắc thời vô quang đích quái dị hiện tượng Cửu tứ, lục ngũ, thị giảng nhân môn sở tao thụ đích chiến tranh đích ly nạn, tao họa).

Đây là cách giải thích hợp lý nhất về ý nghĩa quẻ Bát Thuần Ly mà chúng tôi đọc được. Giảng theo kiểu Đàm Gia Đức chỉ là tán chung chung về hai mặt xấu và tốt trong việc dùng lửa, trong khi toàn bộ quẻ Bát Thuần Ly chỉ toàn nói về tai nạn, chiến tranh, đốt phá, giết chóc v.v… Ngay cả việc giảng “ly” (離) là “phụ lệ” (附 麗) nhưTrương Lập Văn đã vạch ra cũng rất gượng ép vì chẳng quan hệ bao nhiêu với nội dung ý nghĩa các hào từ trong quẻ.

Xin chú ý: về âm Hán Việt chúng tôi vẫn phiên (羅) là “Ia” (âm Bắc Kinh hiện đại là/luó/) nhưng vào trong thời Chu “la” (羅) phát âm giống hệt như “ly” (離) nên hai chữ này mới dùng thông cho nhau và thông cả với “ly” (罹).

Quẻ Bát Thuần Ly phần tổng luận

Trương Thiện Văn và Hoàng Thọ Kỳ tổng luận về quẻ Bát Thuần Ly như sau: “Tả Truyện, Hi Công năm thứ 10, Quắc Xạ nói: Da không còn, lông sẽ dính vào đâu?. (Bì bất tồn, mao tương an phó). Lời đó nói rằng sự vật thông thường phải phụ thuộc vào hoàn cảnh nhất định. Lấy vật tượng trong tự nhiên mà nói, mặt trời bám vào bầu trời mà chiếu sáng khắp mặt đất, lửa nhờ nhiên liệu mà phát ra ánh sáng và sức nóng.

Đó là ví dụ rõ nhất. Ý nghĩa “phụ lệ” (附 麗) (lệ thuộc) của quẻ Bát Thuần Ly chính là lấy lửa và mặt trời để làm ví dụ cơ bản. Quái Tử nói “súc tẫn ngưu” (畜 牝 牛) (nuôi bò cái) thì tốt, tức là nhấn mạnh thời phụ lệ cần phải nhu thuận thủ chính thì mới hanh thông. Phân tích tình trạng của sáu hào, ta thấy:

Hào Nhị và hào Ngũ được cát nhờ âm nhu cư trung, giữ chính đạo để thành cái đẹp của phụ lệ. Hào Tam và hào Tứ đều hung, đó là dương cương bất trung bất chính, nên gặp khốn cùng suy bại, không chỗ dung thân. Cả hai đều không toại chí phụ lệ.

Xét hai hào dương Sơ và Thượng: Hào Sơ Cửu ở thấp, kính cẩn thận trọng, nên dần dần phụ vào vật. Hào Thượng Cửu thì đạo Ly đã thành, sự vật đều thân cận phụ vào nó. Cho nên_hai hào này đều được vô cữu.

Nếu so sánh hai quẻ Khảm và Ly, ta có thể thấy thêm rằng việc xử lý nguy hiểm phải lấy cương trung làm chủ, còn việc phụ lệ phải lấy nhu trung làm chủ. Đó là ý nghĩa cốt lõi trái ngược của hai quẻ này. Đương nhiên, ý nghĩa tượng trưng của quẻ Ly cũng rất rộng.

Nếu lấy việc người mà nói, bất kể địa vị người ta cao thấp thế nào, tất cả họ đều phụ thuộc vào xã hội và thời đại mà họ sống. Nhưng tầng lớp khác nhau giữa người với người lại tồn tại một quan hệ phức tạp giữa đối tượng lệ thuộc và đối tượng bị lệ thuộc. Do đó kết cấu của xã hội con người tất nhiên đã phản ánh một loại tổ hợp đặc biệt và nhất định.

Thoán Truyện khen: “Trùng minh dĩ lệ hồ chính, nãi hoá thành thiên hạ” (Sáng gấp đôi để bám vào chính đạo, để giáo hóa và thành tựu thiên hạ).

Trình Di nói: Trong trời đất, chẳng vật gì mà không lệ thuộc. Ở người thì phải xét kỹ cái mà mình lệ thuộc. Lệ thuộc vào lẽ phải thì mới hanh thông. […] Vua trên tôi dưới, đều có đức sáng, nếu cư xử trung chính, có thể giáọ hóa và thành tựu thiên hạ, tạo thành nề nếp văn minh. (Thiên địa chi trung, vô vô lệ chi vật. Tại nhân đương thẩm kỳ sở lệ. Lệ đắc kỳ chính tắc năng hanh dã. […] Quân thần thượng hạ, giai hữu minh đức, nhi xử trung chính, khả dĩ hóa thành thiên hạ, thành văn minh chi tục).

Như thế ý nghĩa triết học của quẻ Bát Thuần Ly thực sự đã được đem vào phạm trù tư tưởng chính trị cổ đại rồi vậy.

Thôi Bối Đồ tượng thứ 41 Cách Mạng Văn Hóa 10 Năm Đại Loạn

Thời kỳ Cách Mạng Văn Hóa của Trung Quốc là thời kỳ đại loạn, phải trái đúng sai lẫn lộn, mang lại tai họa to lớn cho đất nước Trung Hoa.

Thôi Bối Đồ tượng thứ 41 Cách Mạng Văn Hóa 10 Năm Đại Loạn

Thôi Bối Đồ tượng thứ 41 Cách Mạng Văn Hóa 10 Năm Đại Loạn

Sấm viết:

Thiên địa hối manh, Thảo mộc phồn thực

Âm dương phản bội, Thượng thổ hạ nhật

Dịch nghĩa

Trời đất tối tăm, Cỏ cây tươi tốt

Âm dương đảo lộn, Trời dưới đất trên

Tụng viết:

Mạo nhi tu đới huyết vô đầu

Thủ lộng càn khôn hà nhật hưu

Cửu thập cửu niên thành đại thác

Xưng vương chỉ hợp tại Tần Châu

Dịch nghĩa

Mũ cần phải đội, huyết không đầu

Bỡn cợt càn khôn đến khi nào

Chín mươi chín năm thành lỗi lớn

Xưng vương chỉ hợp ở Tần Châu

Kim Thánh Thán bình chú

Tượng này miêu tả một võ sĩ nắm giữ binh quyền, dẫn tới tai họa đất trời đảo lộn, có lẽ một người họ Bạch đứng lên bình trị.

Ý Nghĩa Của Đồ Hình

Trong hình là một người đàn ông tay trái chống nạnh, tay phải úp xuống như đang gắng sức ấn một vật gì đó xuống dưới. Chân trái của người này đứng trên đất, còn chân phải dẫm lên một vòng tròn. Người xưa nói “trời tròn đất vuông”, vòng tròn ở đây tượng trưng cho trời. Người đàn ông một chân giẫm trên đất, một chân giẫm lên trời là biểu hiện Càn Khôn đảo ngược, ám chỉ vào thời kỳ Đại cách mạng Văn hoá, phải trái, đúng sai lẫn lộn, trời đất đảo ngược.

Ý Nghĩa Của Bài Thơ

Mao Trạch Đông và Đại cách mạng Văn hoá

Mao Trạch Đông và Đại cách mạng Văn hoá

Tượng này dự đoán về Đại cách mạng văn hoá.

Trời đất tối tăm” là nói cảnh xã hội Trung Quốc tối tăm mù mịt.

Thảo mộc phồn thực” (cỏ cây tươi tốt) ám chỉ Lâm Bưu, “cỏ cây” (草 木) là “lâm” (林), “phồn thực” (蕃 殖) là tươi tốt đồng âm với “phồn thực” (繁 殖) là “dục” (育), mà Lâm Bưu tự là Dục Vinh. Lâm Bưu đề xuất khẩu hiệu “đả đảo tất cả”, khiến đúng sai, phải trái lẫn lộn, đẩy đất nước vào tình cảnh rối loạn.

Âm dương đảo lộn, trời dưới đất trên“, hai câu này dự đoán chính xác tình cảnh đại loạn của Trung Quốc khi đó. Đất ở trên, trời ở dưới, tức là ánh sáng mặt trời đã bị mặt đất che lấp, phản ánh mặt đen tối của thời kỳ Cách mạng Văn hoá.

Mạo nhi tu đới huyết vô đầu, thủ lộng càn khôn hà nhật hưu” (mũ cần phải đội, huyết không đầu, bỡn cợt càn khôn đến khi nào). Ý nói tập đoàn phản Cách mạng trong thời kỳ Cách mạng Văn hoá làm lẫn lộn phải trái, vô cớ chụp mũ cho rất nhiều người, gây nên rất nhiều án oan.

Chín mười chín năm thành lỗi lớn“, ý nói 9 + 10 + 9 = 28 năm, tức là từ lúc thành lập nước Cộng hoà Nhân dânTrung Hoa vào năm 1949, tới lúc Đại cách mạng Văn hoá kết thúc hoàn toàn vào năm 1977 tổng cộng 28 năm.

Tần Châu” trong “xưng vương chỉ hợp ở Tân Châu” là chỉ Mao Trạch Đông xây dựng căn cứ Cách mạng tại vùng Thiểm Tây, Cam Ninh, lãnh đạo toàn dân giành thắng lợi trong cuộc kháng chiến chống Nhật và chiến tranh giải phóng.

Ứng Tượng quẻ Bát Thuần Ly trong Kinh dịch

Tượng này tương ứng với quẻ Bát Thuần Ly, quẻ trên và quẻ dưới đều là Ly. Ly là nhật, tức là mặt trời, do vậy quẻ Bát Thuần Ly có tượng ánh sáng mặt trời. Người dự đoán mượn quẻ này để dự đoán về cuộc Cách mạng Văn hoá mười năm đại loạn của Trung Quốc, rõ ràng là mang ý nghĩa châm biếm.

Hào Sơ Cửu: “Lý thác nhiên, kính chi vô cữu”.

Tượng viết “Lý thác chỉ kinh, dĩ tỵ cữu dã”.

Hào Sơ Cửu là hào cương dương, có hành động cấp tiến, song hiểu đạo lý “khiêm tốn, thận trọng”. Bởi vậy hành động không gặp tai hoạ nào. Hào này là nói tới tập đoàn phản Cách mạng có dã tâm đoạt quyền, khi thời cơ chưa chín muồi, vẫn im hơi lặng tiếng, nên không bị phát hiện.

Hào Lục Nhị: “Hoàng ly, nguyên cát”.

Tượng viết: “Hoàng ly nguyên cát, đắc trung đạo dã“.

Hào Lục Nhị đều có đức “nhu thuận trung chính”, bởi vậy cát ở đây là nói Tập đoàn phản động Cách mạng giương cao cờ hiệu “quang minh chính đại” (nhu thuận trung chính), lừa dối Đảng và nhân dân. `

Hào Cửu Tam: “Nhật trắc chi Ly, bất cổ phẫu nhi ca, tắc đại điệt chi ta, hung”.

Tượng viết “Nhật trắc chi Ly, hà khả cửu dã”.

Hào Cửu Tam không ở giữa, cũng không đắc vị, tại ở vi trí cuối cùng của quẻ hạ Ly. Tuy nhiên hào Cửu Tam vẫn thuộc quẻ dương ở vị trí hào dương, giống như là mặt trời lặn xuống phía tây vào lúc hoàng hôn, ánh sáng sẽ không kéo dài được bao lâu nữa. ở đây là nói Tập đoàn phản Cách mạng do ” Bè lũ bốn tên” cầm đầu không giữ chính đạo, nên không được lòng dân, nhất định sẽ thất bại.

Hào Cửu Tứ: “Đột như kỳ lai như, phần như, tử như, khí như”.

Tượng viết: “Đột như kỳ lai như, vô sở dung dã”.

Hào Cửu Tứ phía dưới không có hào tương ứng, nên buộc phải dựa vào hào Lục Ngũ ở trên, tuy nhiên do hào Cửu Tứ là hào dương cương thất chính, làm việc không giữ được đức trung chính, gọi là “phụ thuộc Lục Ngũ”, song thực tế là lấy thế dương cương chèn ép hào Lục Ngũ âm nhu, nên từ phụ thuộc trở thành chèn ép. Ở đây ý nói Tập đoàn phản Cách mạng do ” Bè lũ bốn tên” cầm đầu tìm mọi cách giành chính quyền, đây là hành vi trái với chính đạo.

Hào Lục Ngũ: “Xuất thế đà nhược, thích ta nhược, cát”.

Tượng viết: “Luc ngũ chi cát, ly vương công dã”.

Hào Cửu Tứ dựa vào thế dương cương chèn ép hào Lục Ngũ âm nhu. Vì vậy mà hào Lục Ngũ trở nên bi thương, song hào Luc Ngũ ở vào địa vị tôn quý, được mọi người giúp đó, bởi vậy không gặp tai hoạ. Ở đây ý nói người lãnh đạo nhận được sự ủng hộ của nhân dân, vào thời khắc then chốt đã phá tan âm mưu của Tập đoàn phản Cách mạng.

Hào Thượng cửu: “Vương dụng xuất chinh, hữu gia. Triết thủ, hoạch phỉ kỳ xú, vô cữu”.

Tượng viết: “Vương dụng xuất chinh, dĩ chính bang dã”.

Hào Thượng Cửu ở vị trí cao nhất của quẻ Bát Thuần Ly, đa số đều dựa vào, hơn nữa hào này là hào dương, làm việc cứng rắn,
quyết đoán, tiến hành thảo phạt các phần tử ngoan cố không chịu phụ thuộc. Ở đây ý nói cục Chính trị Trung ương do nhóm Hoa Quốc Phong, Diệp Kiếm Anh, Lý Tiên Niệm lãnh đạo đã dẹp tan Tập đoàn phản Cách mạng ” Bè lũ bốn tên”.

Lịch Sử Ẩn Phía Sau Tượng

Đập tan thế giới cũ - Tranh cổ động thời kỳ Đại cách mạng Văn hóa

Đập tan thế giới cũ – Tranh cổ động thời kỳ Đại cách mạng Văn hóa

Đại cách mạng Văn hoá là một cuộc cách mạng sai lầm của lãnh đạo Đảng, do bị Tập đoàn phản Cách mạng lợi dụng, gây nên vô số đau thương, mất mát và sự rối loạn nghiêm trọng cho đất nước Trung Hoa. Lâm Bưu là một trong những đầu sỏ của Tập đoàn phản Cách mạng, đóng vai trò then chốt trong quá trình phát động và phát triển Đại cách mạng Văn hoá.

Trong những năm chiến tranh cách mạng, những cống hiến của Lâm Bưu đối với đất nước và nhân dân, ai ai cũng biết. Khi phát động phong trào Ngũ Tứ, Lâm Bưu đã tiếp thu tư tưởng tiến bộ, 18 tuổi tham gia chiến tranh Bắc phạt Lâm Bưu từng theo học quân sự tại trường quân sự Hoàng Phố, sau này tiếp thu tư tưởng chủ nghĩa Mác Lênin, gia nhập đảng Cộng sản Trung Quốc. Sau khi Đại cách mạng thất bại, Lâm Bưu bước vào con đường Cách mạng, cùng với đội quân khởi nghĩa vũ trang tới núi Tinh Cương, trở thành một trong những người sáng lập nên khu Trung ương tô.

Lâm Bưu có tài năng quân sự kiệt xuất, trong cuôc đấu tranh chống Quốc Dân Đảng của đảng Cộng sản Trung Quốc từ thập kỷ 20 tới 30, ông đã tham gia nhiều chiến dịch quan trọng của Hồng quân Trung ương.

Năm 1932, Lâm Bưu đảm đương chức tổng chỉ huy quân đoàn thứ nhất của Hồng quân Trung ương. Trong thời gian kháng chiến chống Nhật và chiến tranh giải phóng, Lâm Bưu không lúc nào rời khỏi tiền tuyến, có cống hiến nhất định đối với thắng lợi của chiến tranh.

Trong hoàn cảnh chiến tranh khốc liệt, tư tưởng của Lâm Bưu cũng có lúc dao động. Ông từng đặt ra nghi vấn “Hồng kỳ có thể trụ được bao lâu”, cho thấy rõ thái độ bi quan đối với con đường Cách mạng trước mặt. Về việc này, Mao Trạch Đông đã viết riêng câu “Một đốm lửa nhỏ, thiêu cả cánh đồng” cho Lâm Bưu.

Mao Trạch Đông cũng đã phê hình tư tưởng này, khiến mọi người tràn đầy niềm tin đối với con đường Cách mạng trước mặt. Sau Hội nghị Tôn Nghĩa, Hồng quân gặp bất lợi trong chiến dịch đầu tiên, lúc này Lâm Bưu viết thư lên Trung ương, đề xuất giao quyền chỉ huy quân sự của Mao Trạch Đông cho Bành Đức Hoài. Sự việc này đã bị Mao Trạch Đông khiển trách nghiêm khắc.

Sau khi nhà nước được thành lập, Lâm Bưu lần lượt đảm đương các chức vị phó chủ tịch Uỷ ban Quân sự Chính phủ Nhân dân Trung ương, phó chủ tịch Uỷ ban Quốc phòng. Năm 1955 được phong quân hàm nguyên soái nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa.

Lúc này tình trạng sức khoẻ của Lâm Bưu không tốt, thậm chí đã tới hồi suy sụp. Song trên thực tế, tư tưởng phản Cách mạng đã ăn sâu vào trong máu của Lâm Bưu. Trong Hội nghị Lư Sơn năm 1959, Bành Đức Hoài bị chỉnh đốn, Lâm Bưu cho rằng thời cơ đã tới, lập tức rũ bỏ bộ dạng mệt mỏi, suy sụp, đảm đương chức bộ trưởng quốc phòng thay Bành Đức Hoài, đồng thời chủ trì công việc thường ngày trong Quân uỷ. Vì muốn bản thân nắm quân quyền trong tay, Lâm Bưu lật đổ chủ nhiệm Tổng bộ chính trị Đàm Chính và tổng tham mưu trưởng La Thuỵ Khanh.

Năm 1966, cục Chính trị Trung ương triệu tập Hội nghị toàn thể Trung ương Đảng lần thứ 11 khoá 8, đánh dấu sự ra đời của “Đại cách mạng Văn hoá“.

Trung ương Đảng xây dựng các tổ Cách mạng Văn hoá Trung ương, đồng thời từng bước thay thế cục Chính trị Trung ương và Ban thư ký Trung ương, cho tới khi Tập đoàn phản cách mạng xây dựng cho mình một cơ cấu chỉ huy thực tế.

Hồng vệ binh trong Đại Cách mạng Văn hóa

Hồng vệ binh trong Đại Cách mạng Văn hóa

Sau Hội nghị toàn thể Trung ương Đảng lần thứ 11 khoá 8, Hồng vệ binh nổi lên, tổ chức Đảng địa phương lâm vào cảnh khó khăn, bắt đầu hình thành nên cục diện đại loạn trong cả nước.

Lâm Bưu cấu kết với Giang Thanh, bài trừ những người phản đối mình, sát hại các cán bộ lão thành. Tháng 1 năm 1967, Tập đoàn phản Cách mạng cướp đoạt quyền lực ở Thượng Hải, lịch sử gọi sự kiện này là “Bão táp tháng 1”.

Hành động này đã khiến cục diện hỗn loạn trong nước ngày càng thêm trầm trọng. Trước hành động sai lầm của Tập đoàn phản Cách mạng, đội ngũ Cách mạng giai cấp vô sản lão thành đã bày tỏ sự phản đối kịch liệt, kiên quyết đấu tranh chống lại Lâm Bưu, Giang Thanh.

Trước mặt Mao Trạch Đông, Lâm Bưu luôn miệng ca tụng là “thiên tài”, tung hô “vạn tuế”, song ý đồ cướp đoạt quyền lực tối cao của hắn đã không thể qua mắt Mao Trạch Đông. Trước tình hình này, Lâm Bưu buộc phải thay đổi phương thức đoạt quyền, quyết định phát động chính biến vũ trang.

Ngày 8 tháng 9 năm 1971, Lâm Bưu hạ lệnh tiêu diệt Mao Trạch Đông. Tuy nhiên, âm mưu của hắn mau chóng bị bại lộ. Ngày 13 tháng 9, Lâm Bưu mang theo vợ con bỏ trốn, kết quả là trên đường đi, hắn đã chết do máy bay đã bị rơi xuống vùng Ôn Đô Nhĩ Hán của Mông Cổ. Đây chính là “sự kiện ngày 13 tháng 9” gây chấn động Trung Quốc.

Đại cách mạng Văn hóa là một cuộc cách mạng sai lầm của đảng Cộng sản Trung Quốc, do Tập đoàn phản Cách mạng lợi dụng, gây nên sự rối loạn nghiêm trọng cho đất nước và nhân dân Trung Hoa

Tóm lược Đại cách mạng Văn hóa của Trung Hoa

  • Năm 1966 Cách mạng Văn hoá nổ ra, xây dựng các tổ Cách mạng văn hoá Trung ương, trở thành cơ cấu chỉ huy thực tế của Cách mạng Văn hoá.
  • Năm 1966 – 1969 Nhiệm vụ của giai đoạn này là “lật đổ Bộ tư lệnh giai cấp tư sản”, “đoạt quyền” từ tay phái đương quyền đi theo con đường chủ nghĩa Tư bản, biểu hiện là “hoài nghi tất cả”, “đả đảo tất cả”, “nội chiến toàn diện”.
    Năm 1967 Đội ngũ lão thành Cách mạng bày tỏ sự bất mãn đối với Cách mạng Văn hoá, phái tạo phản do Vương Hồng Văn cầm đầu đã cướp được chính quyền của Uỷ ban thành phố Thượng Hải, lịch sử gọi sự kiện này là “Bão táp tháng 1”, nội loạn ngày càng nghiêm trọng, thời điểm này đã gây ra án oan cho rất nhiều người như Lưu Thiếu Kỳ, Bành Đức Hoài, Hạ Long.
  • Năm 1968 29 tỉnh, thành, khu tự trị trong cả nước lần lượt xây dựng uỷ ban Cách mạng, thực hiện “toàn quốc màu đỏ”. Lý Thiếu Kỳ bị khai trừ vĩnh viễn khỏi Đảng. Lâm Bưu được chọn làm người kế nhiệm Mao Trạch Đông.
    Năm 1969 Phần tử cốt cán của nhóm Lâm Bưu, Giang Thanh được đưa vào cục Chính trị Trung ương, càng củng cố thêm thế lực của họ trong Trung ương Đảng.
  • Năm 1971 Tập đoàn phản cách mạng của Lâm Bưu âm mưu cướp đoạt quyền lực tối cao, song chính biến đã thất bại. Sau đó, Chu An Lai chủ trì công việc thường ngày của Trung ương Đảng, mọi việc tiến triển tốt đẹp.
  • Năm 1973 Vương Hồng Văn đảm đương chức phó chủ tịch Trung ương Đảng. Giang Thanh, Trương Xuân Kiều, Diêu Văn Nguyên và Vương Hồng Văn cấu thành “bè lũ bốn tên”. Mao Trạch Đông đề xướng phong trào phê Lâm phê Khổng (phê phán Lâm Bưu và Khổng Tử) để duy trì và bảo vệ Đại cách mạng Văn Hoá.
  • Năm 1974 Giang Thanh triển khai phong trào phê Lâm phê Khổng, tận dụng thời cơ chĩa mũi nhọn vào Chu Ân Lai. Mao Trạch Đông kịp thời phát hiện âm mưu của Giang Thanh đã nghiêm khắc phê bình và tuyên bố bốn người bọn họ là “lũ bốn tên”, khiến âm mưu của họ thất bại.
  • Năm 1975 Dưới sự giúp đỡ của Mao Trạch Đông, Đặng Tiểu Bình chủ trì công việc thường ngày của Trung ương Đảng, tình thế đã có sự chuyển biến rõ rệt. Mao Trạch Đông không chấp nhận việc chỉnh sửa sai lầm trong Cách mạng Văn hoá của Đặng Tiểu Bình nên đã tiếp tục phát động phong trào “phê phán Đặng Tiểu Bình, phản kích hữu khuynh xét lại”.
  • Năm 1976 Chu Ân Lai và Mao Trạch Đông lần lượt qua đời, “bè lũ bốn tên“ đẩy nhanh tiến độ phản Cách mạng. Cục chính trị Trung ương do Hoa Quốc Phong, Diệp Kiếm Anh, Lý Tiên Niệm lãnh đạo đã dẹp tan tập đoàn phản cách mạng của Giang Thanh, kết thúc Đại cách mạng Văn hoá.
  • Năm 1977 Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ 11 chính thức tuyên bố chấm dứt Cách mạng Văn hoá.

Kết Luận

Quẻ Bát Thuần Ly có tượng dùng lưới săn bắt nên còn mang ngụ ý phải luôn đề phòng và bỏ chạy. Con người sống ở đời, bị nhiều thứ lưới vô hình bao phủ, như lưới ham muốn, lưới tình vây bắt…Khi ta ý thức được các thứ lưới ấy thì bắt đầu hành động bỏ chạy. Song thoát được thứ lưới này thì lại sa vào thứ lưới khác, có thể nói mỗi kiếp người, suốt đời đều phải cố gắng thoát lưới. 

Tuy nhiên, cố gắng của mỗi người không phải đều là vô ích. Mỗi lần thoát một thứ lưới, mức độ tự do của ta lại gia tăng. Một khi mức độ ấy đủ lớn thì ta sẽ thành công trong việc muốn làm….

Comment ngay nếu có gì thắc mắc về Quẻ Thuần Ly để nhận giải đáp trực tiếp từ Ad nhé !!!

(Series bài viết Hướng dẫn tự học Kinh Dịch Tại chuyên mục Giáo Dục dành cho Newbie được viết bởi Phú Hà

Để trở về trang chủ mời quý khách Click Tại Đây)

18 Comments

  1. Nguyễn Trường Sơn viết:

    Cảm ơn bạn đã viết bài về quẻ Bát Thuần Ly này, quẻ ly tượng trưng cho sáng sủa rực rỡ, như mặt trời lên cao, ko có hắc ám nào tồn tại được, nhưng quẻ ly theo bạn phân tích lại có tượng là lưới, là bẫy rập, xem ra càng chỗ sáng sủa nhất, lại càng phải đề phòng nhất ạ.

  2. trịnh an viết:

    Ad ơi, trường hợp quẻ thuần ly có phải ứng vào trường hợp thân nhau lắm cắn nhau đau không ạ, bạn bè thân thiết đâm sau lưng ấy ạ. 🙂

  3. Alex UK viết:

    Ngoài trời mưa vẫn rơi, trong nhà mình vẫn miệt mài đọc bài Ad viết…

  4. Zane Becnel viết:

    Cảm ơn bạn, bài viết quẻ thuần ly rất là hay.

  5. Việt DP viết:

    Hay quá, giờ mình mới biết trang này, cảm ơn Ad

  6. Love viết:

    Loạt bài viết này chưa đủ 64 quẻ Ad ơi, Ad bổ xung đi ạ, mình đang vừa đọc vừa nghiền ngẫm đây, thank ad nhiều nhé.

  7. Hằng Con viết:

    Bài viết cực văn chất, cảm ơn Ad

  8. Hong Lee viết:

    Hi, lần đầu thấy có người luận quẻ Ly có tượng lưới đánh cá, tượng trưng cho sự nguy hiểm, hi, rất là hay ạ

  9. Việt Long viết:

    Có khi nào nơi sáng sủa nhất lại cũng là nơi đen tối nhất không Ad ơi, hi, mình fun tý, bài viết về quẻ thuần ly rất là hay, thank Ad

  10. stefania viết:

    Cảm ơn ad, bài viết rất công phu, tuy nhiên Ad có thể viết thêm một phiên bản đơn giản hơn cho những người mới học kinh dịch không ạ, chúc Ad đầy sức khỏe.

  11. Thanh Vũ viết:

    Bài viết hay quá, cảm ơn ad ạ, tình cờ tìm thấy, bookmark để xem lâu dài, hi

  12. with friends viết:

    Cảm ơn bạn, bài viết về quẻ Ly rất tuyệt vời.

  13. Bé xì dầu viết:

    Bài viết tuyệt vời, lưu lại để xem sau ạ, cảm ơn Ad nhiều lắm 🙂

  14. Lâm Nguyễn Z viết:

    Cảm ơn bạn về bài viết rất là hay, đúng quẻ nhân mệnh của mình.

  15. A Cường viết:

    Thanks Ad 🙂

  16. 那时候 viết:

    Chất quá, đọc hoài không chán, bộ tài liệu về kinh dịch này rất hay.

Trả lời

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *