Ý nghĩa, giải quẻ Lôi Thủy Giải – Quẻ dịch số 40 – Kinh Dịch

8
2237
Quẻ Lôi Thủy Giải - Quẻ Dịch Số 40
Quẻ Lôi Thủy Giải - Quẻ Dịch Số 40

Quẻ Lôi Thủy Giải báo hiệu những khó khăn sắp sửa trôi qua, một thời kỳ ấm áp của mùa xuân đang vẫy gọi là hàm nghĩa quẻ Lôi Thủy Giải.

Trong Kinh Dịch, quẻ Lôi Thủy Giải là quẻ tiếp nối của quẻ Thủy Sơn Kiển với hàm nghĩa vạn vật mãi chìm trong kiếp nạn, tất phải có lúc được giải thoát, nên quẻ tiếp theo là quẻ Lôi Thủy Giải

Khổ nạn qua rồi khôi phục nhanh.

Âm dương hòa hợp đúng thời hanh.

Khoan hòa cứng rắn trừ gian xảo.

Nhiên hậu tuyệt đường kẻ sử sanh.

Thượng quái là Chấn (sấm). Hạ quái là Khâm (nước). Quẻ có tên là quẻ Lôi Thủy Giải

Có thể bạn cần tham khảo thêm Quẻ Phong Lôi Ích

Hoặc tham khảo thêm   Quẻ Hỏa Trạch Khuê

Quẻ Lôi Thủy Giải – Giải Nghĩa

Quẻ Lôi Thủy Giải có quẻ Thượng là Chấn mộc là trúc xanh là cây gỗ cứng, quẻ hạ Khảm thủy là nước là con sông. Hào 2, 3, 4 quẻ Lôi Thủy Giải tạo thành quẻ hỗ hạ Ly, Ly là lửa là đèn. Tổng hợp lại, quẻ Lôi Thủy Giải có tượng là cái tháp đèn, hải đăng. 

Theo Thuyết văn, Giải là phán, là phân cắt. Nhìn hình chữ Giải trên giáp cốt văn, kim văn thấy giống như người dùng tay tách 2 cái sừng bò, vốn có nghĩa phân tích, phân chia, phân giải, suy rộng ra là giải thích, giải thoát, giải phóng, giải tán.

Tháp đèn, hải đăng có thể giải tỏa nỗi lo của con thuyền đi trong bóng tối nên gọi là quẻ Lôi Thủy Giải.

Thoán từ quẻ Lôi Thủy Giải

Lời Thoán quẻ Lôi Thủy Giải viết:

Giải. Lợi Tây Nam. Vô sở vãng. Kỳ lai phục. cát. Hữu du vãng. Túc cát. (解. 利 西 南. 無 所 往. 其 來 復 吉. 有 攸 往. 夙吉)

Dịch nghĩa: Quẻ Lôi Thủy Giải: Xuất hành về hướng Tây Nam có lợi, nếu không có nơi nào để đi (việc gì để làm) thì nên quay về chốn cũ cũng tốt, còn có nơi nào để đi thì mau sớm xuất hành sẽ gặp may mắn.

Giải thích lời thoán quẻ Lôi Thủy Giải:

Wilhelm giảng “Giải” (解) đây là “giải thoát”: Đây là chuyển động thoát ra khỏi nơi nguy hiểm. Chướng ngại vật đã bị loại trừ, những khó khăn đang được giải quyết. Sự giải thoát hoàn toàn vẫn chưa đạt được, chỉ mới trong giai đoạn đầu tiên và quẻ Lôi Thủy Giải này cho thấy những giai đoạn khác nhau trong tiến trình thoát ra đó.

Trương Thiện Văn giảng: “Giải” (解) là giải trừ hoạn nạn, mọi vật được sống yên ổn. Tây Nam tượng trưng cho nơi đông người. “Túc” (夙) là “sớm”, ở đây có nghĩa là nhanh chóng. Tiêu Tuần trong Chu Dịch bổ sớ nói: “Túc cả âm và nghĩa đều thông nhau. Quái từ nói rằng, ở vào thời quẻ Lôi Thủy Giải, có lợi về việc thi hành ở chỗ đông người, giúp cho mọi người cũng được yên ổn, vì vậy mới nói là “lợi Tây Nam”. Lúc này, nếu không có hoạn nạn, thì chẳng phải tiến hành việc gì, cứ việc quay về an cư lo sửa sang bên trong cho tốt. Vì vậy mới nói “vô sở vãng, kỳ lai phục cát”. Nếu xuất hiện hoạn nạn, thì phải tiến hành công việc giải trừ một cách sớm sủa nhanh chóng thì tốt. Vì vậy mới nói là “hữu du vãng, túc cát” (Từ điển Chu Dịch).

Tự Quái Truyện giảng “giải” tức là “hoãn” (giải, hoãn dã 解 緩 也). Thuyết văn giải tự giảng: “Giải là cắt, chữ này kết hợp nghĩa dùng dao cắt sừng bò” (Giải, phán dã, tòng đao phán ngưu giác).

Khổng Dĩnh Đạt giảng “giải” là “nguy hiểm” tai nạn đã được giải trừ, tình thế bình ổn trở lại” (giải giả, hiểm nạn giải thích, vật tình thư hoãn).

Trương Lập Văn cũng giảng “giải” trong quẻ Lôi Thủy Giải có nghĩa là “giải trừ, phân giải” (bản quái “giải” hữu phân giải, giải trừ chi nghĩa). Thượng Bỉnh Hòa nói: “Quẻ Chấn đã ra khỏi cơn nguy hiểm nên gọi là giải” (Chấn xuất hiểm cố viết giải)

Quách Dương giảng: Chữ “giải” (解) có nghĩa “phân giải” (分 解) và “hoãn giải” (緩 解) . Căn cứ chuyện thảo mộc mà nói, đây là chuyện “phu giáp thoát liệt” (孚 甲 脫 裂) (vạn vật sinh sôi nẩy nở, thoát mầm lột xác) mà chúng ta đã bàn đến trước đây. Cái gọi là bách quả thảo mộc giai phu giáp khai sách (vạn vật thảo mộc khai hoa nở nhụy) chính là diễn tả ý này.

Tây Nam là vị trí quẻ Khôn. Khôn tượng trưng cho bề tôi, cho dân chúng, cho nên mới nói đi về Tây nam thì được dân, hào Lục Ngũ tiến lên gặp Thượng Lục, tức là âm gặp âm, nên tiến tới thì bất lợi, dưới ứng với hào Cửu Nhị, nhật nguyệt tin nhau, cho nên mới nói “lai phục cát”. “Lai” là đi vào trong (nhập nội vi lai), chỉ hào Lục Ngũ nhập vào nội quái và ứng với hào Cửu Nhị “Hữu du vãng” chỉ hào Cửu Nhị hướng lên trên tìm hào Lục Ngũ, mau chóng có được cát lợi, tiến tới thì có công. Trong cả hai hào Cửu Nhị và Lục Ngũ, bất luận là Ngũ nhập nội hay Cửu Nhị đắc vị, đều là hào tốt. Ý nghĩa quẻ Lôi Thủy Giải, cũng thích hợp ứng dụng cho thiên địa, thảo mộc, cho nên mới nói thời quẻ Lôi Thủy Giải thật là lớn lao vậy!

(Giải tự, hữu phân giải, hoãn giải chi nghĩa. Tòng thảo mộc nhi ngôn, tựu thị ngã môn tiền điện đàm quá đích phu giáp thoát liệt kỳ ngoại giáp nhi xuất. Sở vị bách thảo mộc giai phu giáp khai sách tức thử ý. Tây Nam Khôn quái chi địa. Khôn vi thần, vi chúng, sở dĩ vãng Tây Nam đắc chúng. Lục ngũ thướng ngộ thượng lục, dĩ âm ngộ âm, cố bất lợi tiền vãng, hạ ứng vu cửu nhị, âm dương tương phu, sở dĩ lai phục cát. Lai, nhập nội vi lai, chỉ lục ngũ nhập nội quái dữ cữu nhị ứng. Hữu du vãng, chỉ cửu nhị thướng tầm lục ngũ, tảo tựu cát lợi, dĩ vãng nhi hữu công. Nhị dữ ngũ chi gian, vô luận ngũ lai, hoàn thị nhị vị, đô hảo. Giải quái chi nghĩa, dã thích dụng vu thiên địa, thảo mộc, sở dĩ thuyết, giải chi thời đại hĩ tai !)

Về chữ “túc” (夙) bản Bạch Thư Chu Dịch chép chữ “túc” (宿) (trú ngụ, ngày nay thường dùng trong cụm từ “ký túc xã”), nhưng hai nghĩa dùng giả tá thông nhau, không có gì khác biệt. “Túc” (宿) theo Tiểu Nhĩ Nhã Quảng hỗ giảng có nghĩa là “lâu dài” (túc, cửu dã 宿 久 也), nhưng Quảng Nhã Thích hỗ lại giảng “túc” là “ngừng lại” (túc, chỉ dã 宿 止 也). Vì hai chữ “túc” (夙) và “Túc” (宿) dùng thông nhau trong khi bản thân chúng cũng có những nghĩa khác nhau nên câu “hữu du vãng, túc cát” (有 攸 往. 夙吉) có thể dịch ra thành hai ý trái ngược hẳn nhau một là “Nếu có xuất hành, thì nên đi sớm là tốt” (như hữu sở vãng tảo hành tắc cát tường), hai là “Nếu có chuyện xuất hành thì nên đình chỉ là tốt” (hữu sở vãng đình chỉ tắc cát).

Wilhelm bình giảng: Quẻ Lôi Thủy Giải nói đến một thời kỳ trong đó các căng thẳng hay phức tạp bắt đầu được giải tỏa dần. Trong những thời kỳ như vậy chúng ta cần nỗ lực quay trở lại những điều kiện sống bình thường càng sớm càng tốt. Đây là ý nghĩa của chữ “Tây Nam ”. Những thời kỳ có những thay đổi đột biến có ý nghĩa rất lớn. Cũng như cơn mưa rơi xuống làm giảm sự căng thẳng trong khí quyển, khiến các mầm nụ được khai hoa, một thời kỳ giải phóng, giải thoát ra khỏi những áp lực nặng nề đem đến một tác dụng có tính kích thích và khai phóng cho cuộc sống. Tuy nhiên còn một điều quan trọng: trong những thời kỳ như vậy chớ nên làm quá đáng, khai thác quá đáng chiến thắng của mình. Điểm mấu chốt chính là không nên đẩy xa hơn giới hạn cần thiết. Trở về với phong cách sinh hoat thông thường ngay khi vừa được giải thoát sẽ đem lại may mắn. Nếu còn bất kỳ vấn đề tồn đọng nào cần có sự quan tâm giải quyết, cần phải thực hiện càng nhanh càng tốt, để cho mọi rác rưởi đều được quét sạch và không còn bất kỳ sự chậm trễ nào.

Đại tượng quẻ Lôi Thủy Giải

Lời tượng quẻ Lôi Thủy Giải viết:

Tượng viết: Lôi vũ tác. Giải. Quân tử dĩ xá quá hựu tội. (象 曰. 雷 雨 作. 解. 君 子 以 赦 過 宥 罪)

Dịch nghĩa: Sấm động mưa rơi, đó là hình tượng quẻ Lôi Thủy Giải, quân tử (nhà vua) xem tượng quẻ này khoan thứ cho những lầm lỗi (của cấp dưới) và ân xá cho phạm nhân.

Quẻ Lôi Thủy Giải - Đại Tượng
Quẻ Lôi Thủy Giải – Đại Tượng

Giải thích lời tượng quẻ Lôi Thủy Giải:

“Xá quá” (赦 過) là “tha thứ các lỗi lầm” (xá miễn quá thất).

“Hựu tội” (宥 罪) là “khoan dung ban ân cho tội nhân” (khoan hựu tội nhân).

Quách Dương dịch câu trên là: “Sấm rụng mưa rơi, vạn vật đâm chồi nảy lộc, quân tử ứng theo đó bắt chước tự nhiên, ân xá tội phạm, phóng thích họ ra khỏi nơi tù ngục” (Lôi vũ tác, bách quả thảo mộc giai phá giáp nhi xuất. Quân tử nhân ứng hiện pháp tự nhiên, xá hựu phạm nhân, sử kỳ đắc thoát lâm ngục nhi xuất).

Lai Tri Đức trong Chu Dịch tập chú cũng giảng: “Sấm mưa dào dạt là lúc trời đất giải cởi gian truân cho vạn vật. Tha thứ lỗi lầm, khoan hồng tội ác, người quân tử lấy đó để giải trừ hoạn nạn cho muôn dân. Đó cũng là ý giải cởi khoan thứ trong Tập quái” (Từ điển Chu Dịch).

Wilhelm dịch: “Sấm mưa bắt đầu, hình tượng quẻ Lôi Thủy Giải, như thế người quân tử bỏ qua lầm lỗi, tha thứ cho những sự mạo phạm”.

Hào Sơ Lục quẻ Lôi Thủy Giải

Lời hào Sơ Lục quẻ Lôi Thủy Giải viết:

Sơ lục. Vô cữu. (初 六. 無 咎)

Dịch nghĩa: Hào Sơ Lục quẻ Lôi Thủy Giải là hào âm: Bói được hào này, không xấu cũng không tốt (bình thưởng).

Quẻ Lôi Thủy Giải - Hào Sơ Lục
Quẻ Lôi Thủy Giải – Hào Sơ Lục

Giải thích hào Sơ Lục:

Trương Thiện Văn và Hoàng Thọ Kỳ giải thích: Đây chỉ hào Sơ Lục, ở vào thời nguy nan sơ giải, là hào nhu ở dưới, trên ứng với hào Cửu Tứ, bản thân không có gì nguy hại” (Vô cữu chi sơ lục đương nguy nan sơ giải chi thời, dĩ nhu xử hạ, thượng ứng cửu tứ, cố vô cữu). Chu Hi giảng: Hoạn nạn đã giải trừ rồi, giữ đạo nhu thuận ở dưới, trên có chính ứng, thì còn nguy cơ gì nữa?’ (Nạn ký giải hỹ, dĩ nhu tại hạ, thượng hữu chính ứng, hà cữu chi hữu?).

Tượng Truyện của hào Sơ Lục nói:

Cương nhu tương ứng, ý nghĩa không có gì nguy hại” (Cương nhu chi tế, nghĩa vô cữu dã 剛 柔 之 際, 義 無 咎 也).

“Cương” (剛) là chỉ hào Cửu Tứ, “nhu” (柔) là chỉ hào Sơ Lục. “Tế” ( 際) tức là “giao nhau” (tế, giao dã 際 交 也).

Hào Cửu Nhị quẻ Lôi Thủy Giải

Lời hào Cửu Nhị quẻ Lôi Thủy Giải viết:

Điền hoạch tam hồ. Đắc hoàng thỉ. Trinh cát. (田 獲 三 狐. 得 黃 矢. 貞 吉)

Dịch nghĩa: Hào 2 Dương của quẻ Lôi Thủy Giải có nghĩa là: Đi săn bắn được ba con hồ ly, trên thân chúng vẫn còn ghim mũi tên đầu bịt vàng, bói được hào này rất tốt.

Quẻ Lôi Thủy Giải - Hào Cửu Nhị
Quẻ Lôi Thủy Giải – Hào Cửu Nhị

Giải thích hào Cửu Nhị:

Trương Thiện Văn và Hoàng Thọ Kỳ giảng: Hồ (狐) (cáo) đây chỉ những tai họa đang mai phục ẩn giấu, hoàng thỉ (黃 矢) (mũi tên bằng vàng) chỉ việc cư trung cương trực (Hồ dụ ẩn phục chi hoạn, hoàng thỉ dụ cư trung cương trực).

Trong quẻ Hỏa Lôi Phệ Hạp, hào Cửu Tứ, cũng có nói “đắc kim thỉ” (得 金 矢) . Hoàng thỉ (黃 矢) hay kim thỉ (金 矢) cũng là một. Cao Hanh cho đây là lấy sự tích ở một câu truyện xưa, nhưng ông cũng không cho biết đó câu chuyện gì. Nghê Thái Nhất cũng nhắc đến một cách lý giải cho rằng Hồ (狐) đây tức là “hồ ly”, một loại động vật có khả năng mê hoặc người khiến cho họ bị trúng tà độc, tượng trưng cho bọn tiểu nhân.

Xét quẻ Lôi Thủy Giải ta thấy có đến bốn hào âm, trừ hào Lục Ngũ cư quân vị không tính, còn lại đúng ba hào âm, ý muốn nói ba lần đánh đuổi bọn tiểu nhân mê hoặc nhà vua (tam thứ khu trục mê hoặc quân chủ đích tiểu nhân). Bắn loại hồ ly này đương nhiên phải dùng loại tên bằng vàng. Màu vàng là màu đất. Thổ trong ngũ hành chiếm ngôi vị trung cung (trung ương nhan sắc). Tên tượng trưng cho sự thẳng thắn, màu vàng tượng trưng cho đạo trung dung, nên ý muốn nói trong giai đoạn đánh đuổi tiểu nhân cần áp dụng phương pháp trung dung và ngay thẳng (tại khu trục tiểu nhân thời, tu dụng trung dung chính trực đích phương pháp). Đây là cách lý giải của Nghê Thái Nhất.

Hào Lục Tam quẻ Lôi Thủy Giải

Lời hào Lục Tam quẻ Lôi Thủy Giải viết:

Phụ thả thừa. Trí khấu chí. Trinh lận. (負 且 乘. 致 寇 至. 貞 吝)

Dịch nghĩa: Hào 3 quẻ Lôi Thủy Giải là hào âm, hào này có nghia là: Thân đã mang vác tài vật, lại còn chở theo cả xe, việc này chỉ như mời mọc bọn cường đạo đến, bói được hào này có điềm mất của.

Quẻ Lôi Thủy Giải - Hào Lục Tam
Quẻ Lôi Thủy Giải – Hào Lục Tam

Giải thích hào Lục Tam:

“Phụ” (負) đây tức là “mang vác, khiêng vác đồ vật” (phụ vật). “Thừa” (乘) đây tức là “đi xe” (thừa xa). “Trí khấu chí” (致 寇 至) là “xui khiến cho bọn trộm cướp đến” (chiêu dao nhạ đạo).

Từ Tử Hùng dịch trọn câu trên là: Mang theo nhiều tài vật, vừa mang vác trên lưng, vừa chở trên xe, chỉ tổ xui khiến cho giặc cướp đến, tự nhiên kêu gọi thảo khấu đến đánh cướp, bói được hào này là tượng tai họa. (Đới trước hứa đa tài vật, hựu thị bối phụ, hựu thị xa lạp, chiêu dao nhạ đạo, tự nhiên chiêu trí đạo khẩu thưởng kiếp, bốc vấn hữu tai họa chỉ tượng).

Vương Bật giảng: Ngồi ở ngôi vị không đúng với thân phận, đặt chân ở nơi không chính đáng, nịnh nọt xu phụ Hào Tứ, chính là bọn dùng biện pháp âm nhu tà đạo để tự mê hoặc. Cưỡi lên hào Nhị, mang cõng hào Tứ để dung thân, thì việc vời giặc đến là do mình vậy. (Xử phi kỳ vị, lý phi kỳ chính, dĩ phụ ư tứ, dụng phù nhu tà dĩ tự mị giả dã.Thừa nhị phụ tứ, dĩ dung kỳ thân, khấu chi lai dã, tự kỷ sở trí).

Hào Cửu Tứ quẻ Lôi Thủy Giải

Lời hào Cửu Tứ quẻ Lôi Thủy Giải viết:

Giải nhi mẫu. Bằng chí tư phu. (解 而 拇. 朋 至 斯 孚)

Dịch nghĩa: Hào 4 quẻ Lôi Thủy Giải là hào Dương, hào này hàm nghĩa: Hãy tự giải thoát anh ra khỏi tấm lưới bao quanh (bạn bè xấu, bọn tiểu nhân). Khi bạn tốt đến với anh hãy đối xử với họ một cách thành khẩn.

Quẻ Lôi Thủy Giải - Hào Lục Tứ
Quẻ Lôi Thủy Giải – Hào Lục Tứ

Giải thích hào Cửu Tứ:

“Mẫu” (拇) theo Lục Đức Minh dẫn Lục Tích giảng là “ngón chân cái” (túc đại chỉ dã). Chữ “Tư” (斯) là giới từ, theo Kinh truyện thích từ giảng cách dùng giống như chữ “Nãi” (斯) (bèn).

Trương Thiện Văn và Hoàng Thọ Kỳ dịch câu trên như sau: Phải xa lánh sự xu phụ của bọn tiểu nhân giống như phải loại bỏ mối nguy hiểm ẩn tàng trong ngón chân cái của anh, thì bạn bè mới thành tâm tương ứng. (Tượng thư giải nễ đại cước chỉ đích ẩn hoạn nhất dạng bãi thoát tiểu nhân đích củ phụ, nhiên hậu hữu bằng tựu năng tiền lai dĩ thành tín chi tâm tương ứng).

Từ Tử Hùng giảng “giải nhi mẫu” (解 而 拇) là lười vận động chân, tức là không muốn đi” (lãn động cước, tức bất tưởng tẩu). “Bằng” (朋) tức là “bằng bối” (tiền bạc). “Bằng chí” (朋 至) như vậy tức là “kiếm được tiến” (trám liễu tiến). “Phu” (孚) tức là “phu lỗ” (bị bắt làm tù binh).

Từ Tử Hùng dịch trọn hào trên như sau: Kiếm được tiền, mà lười biếng không chịu bỏ đi, kết quả bị người bắt đi” (trám liễu tiền, nhi lãn đãi bất tưởng tẩu, kết quả bị nhân lỗ tẩu).

Bản Bạch Thư Chu Dịch chép khác ba chữ: ‘ chữ “mẫu” (拇) ( nhưng bên trái không phải bộ tài gẩy mà là bộ Mộc, chữ Mẫu bên phải), chữ “bằng”, và chữ “phục” (復) (thay cho chữ “phu” 孚) nhưng nghĩa giống nhau vì chúng là các chữ giả tá cận âm.

Wilhelm dịch: Hãy giải thoát bản thân ra khỏi ngón chân cái, lúc đó người bạn mới đến, và bạn có thể tin tưởng được người bạn này.

Cao Hanh cho rằng chữ “mẫu” (拇) đúng ra phải viết là chữ “môi” (trên đầu bộ võng, dưới là chữ “mỗi”). Hán Ngũ Đại tự điển giảng đọc là “môi hay “mội” (mạc bôi thiết, mạc bội thiết) và có nghĩa là “cái lưới” (võng) . Lý giải như vậy thì hợp lý hơn vì như thế “giải nhi mẫu” sẽ là “thoát ra khỏi lưới” chứ hiểu như Wilhelm rằng “giải nhi mẫu” là “thoát ra khỏi ngón chân cái” thì vô lý, dù là giải thích theo cách nào cũng khiên cưỡng. Cao Hanh giảng “giải nhi mẫu” là “giải thoát anh ra khỏi lưới”. Người giải thoát anh ra khỏi lưới là những bạn bè anh (Giải nhi môi do vân giải nhữ võng. Giải nhữ võng giả, hả nhân? Nãi nhữ Chi hữu dã).

Hào Lục Ngũ quẻ Lôi Thủy Giải

Lời hào Lục Ngũ quẻ Lôi Thủy Giải viết:

Quân tử duy hữu giải. Cát. Hữu phu vu tiểu nhân. (君 子 維 有 解. 吉. 有 孚 于 小 人).

Dịch nghĩa: Hào 5 quẻ Lôi Thủy Giải là hào âm, có hàm nghĩa như sau: Khi quân tử đã được phóng thích (ra khỏi vòng kềm tỏa, giam giữ), mọi sự tốt lành, bọn tiểu nhân sẽ bị trừng phạt thích đáng.

Quẻ Lôi Thủy Giải - Hào Lục Ngũ
Quẻ Lôi Thủy Giải – Hào Lục Ngũ

Giải thích hào Lục Ngũ:

Trương Thiện Văn và Hoàng Thọ Kỳ dịch: Quân tử có thể giải trừ được hoạn nạn, tốt lành, thậm chí có thể dùng đức thành tín để cảm hóa được bọn tiểu nhân. (Quân từ năng cấu thư giải hiểm nạn, cát tường, thậm chí năng dụng thành tín chi đức cảm hóa tiểu nhân).

 Từ Tử Hùng giảng như sau: “Phu” (孚) là “trừng phạt” và “duy hữu giải” (維 有 解) là “bị trói nhưng được cởi ra” (hệ nhi đắc thích). Ông dịch câu trên là: “Quân tử bị bắt giam nhưng sau đó được phóng thích, tốt lành, tiểu nhân sẽ bị trừng phạt” (Quân tử bị câu tù hậu hựu hoạch thích, cát tường, tiểu nhân tắc tương thụ phạt). Trương Lập Văn dịch: “Quân tử chỉ khi nào được giải thoát mới tốt lành, đối với bọn tiểu nhân cần có thành tín”. (Quân tử chỉ hữu giải thoát tắc cát tường, đối ư tiểu nhân yếu hữu thành tín).Cách dịch này hoàn toàn dựa vào Wilhelm.

Hào Thượng Lục quẻ Lôi Thủy Giải

Lời hào Thượng Lục quẻ Lôi Thủy Giải viết:

Công dụng xạ chuẩn. Vu cao dung chi thượng. Hoạch chi vô bất lợi. (公 用 射 隼. 于 高 墉 之 上. 獲 之. 無 不 利)

Dịch nghĩa: Hào trên cùng quẻ Lôi Thủy Giải là âm hào, hào này có ý nghĩa: Đứng trên tường thành cao vị vương công bắn rơi con chim ưng dữ tợn, hạ được nó rồi, mọi sự đều có lợi.

Quẻ Lôi Thủy Giải - Hào Thượng Lục
Quẻ Lôi Thủy Giải – Hào Thượng Lục

Giải thích hào Thượng Lục:

“Chuẩn” (隼) (âm Bắc Kinh hiện đại là /sũn/) là một loài chim dữ. Khổng Dĩnh Đạt chú: “Chuẩn là một loại chim tham lam dữ tợn, còn có tên gọi là chiên diêu” (tham tàn chi điểu, chiên diêu). Lý Đỉnh Tộ dẫn Cửu Gia Dịch giảng “chuẩn” (隼) là “chí điểu” (鷙 鳥) (một loại chim hung tợn).

“Dung” (墉) Thuyết văn giải tự giảng là “tường thành thấp” (dung, thành viên dã). Bản Bạch Thư Chu Dịch chép “dung” (庸) .Lục Đức Minh dẫn Mã Dung giảng “dung” (墉) là “tòa thành” (dung, thành dã).

Trương Lập Văn dịch câu trên như sau: “Một vị vương công đứng trên tường thành cao, bắn trúng được chim ưng, thu được vật săn, mọi sự đều có lợi” (Mỗ công tại cao cao đích thành tường thượng, xạ trúng ưng nhi hữu liệp hoạch, một hữu bất lợi).

Trương Thiện Văn và Hoàng Thọ Kỳ dịch: “Vương công phát tiễn bắn trúng con chim dữ đang đậu trên thành cao, bắn một phát là trúng ngay, làm gì cũng có lợi.” (Vương công phát tiễn xạ kích cứ ư cao thành chi thượng đích ác chuẩn, nhất cử xạ đắc, vô sở bất lợi).

Wilhelm dịch “Vương công bắn chim ưng trên tường thành cao. Ông giết được nó. Mọi sự đều có lợi.”.

“Chim dữ” đây có lẽ tượng trưng cho tên đầu sỏ, kẻ cầm đầu, giờ đây đã bị tiêu diệt. Nghê Thái Nhất giảng hào Thượng Lục tuy là hào tối cao trong quẻ Lôi Thủy Giải, nhưng không chiếm được quân vị nên mới gọi là “công 公”. “Chuẩn” (隼) tượng trưng cho bọn tiểu nhân, chỉ hào Lục Tam. “Dung” (墉) là chỉ hào Thượng Lục đang ở vị trí cao. Đây là hào cuối cùng trong quẻ Lôi Thủy Giải nên cũng tượng trưng cho việc cuối cùng thì bọn xấu cũng đã bị tiêu diệt, người quân tử đã được giải phóng hoàn toàn.

Có thể “chim dữ” (chuẩn 隼) đây ám chỉ Trụ vương. Còn vị “vương công” chính là Chu Võ Vương và người được phóng thích là Chu Văn Vương?

Tổng luận quẻ Lôi Thủy Giải

Quẻ Lôi Thủy Giải được Trương Thiện Văn và Hoàng Thọ Kỳ tổng luận như sau: “Quẻ Lôi Thủy Giải nói lên lý lẽ giải nạn. Quái Từ trước tiên nói việc giải nạn thi hành ở đất Tây Nam thì có lợi, và nhấn mạnh mục đích giải nạn là khiến cho mọi người cùng thư thái thoải mái. Sau đó Quái Từ nêu ra hai nguyên tắc cơ bản của giải nạn:

(a) Vô nạn (无 難) (không có hoạn nạn) thì lai phục an cư là tốt.

(b) Hữu nạn (有 難) (có hoạn nạn) thì giải nạn gấp rút là tốt.

Chu Hi nói: Nếu không có chỗ đi thì nên quay lại chỗ của mình, và ở yên tĩnh. Nếu có chỗ đi thì phải đi sớm về sớm, không thể phiền nhiễu lâu. (Nhược vô sở vãng, tắc nghi lai phục kỳ sở nhi an tĩnh, nhược thượng hữu sở vãng, nghi tảo vãng tảo phục, bất khả cửu phiền nhiễu dã).

Có thể thấy, tôn chỉ quẻ Lôi Thủy Giải là thông qua việc giải trừ hoạn nạn nhằm đạt tới hoàn cảnh an ninh hoà bình. Ý nghĩa của sáu hào nghiêng về mô tả tình trạng cụ thể của quá trình giải nạn và ý nghĩa quan trọng của việc dẹp trừ tiểu nhân, khử nội hoạn (mối lo trong nội bộ).

Trần Mộng Lôi cho rằng: Ý nghĩa của sáu hào chủ yếu là trừ tiểu nhân. Hào Lục Tam là tiểu nhân làm bậy dẫn đến thiên hạ binh đao, các hào kia đều muốn khử nó: Hoạch hồ (bắt được hồ ly) ở hào Nhị là ý nói bắt hào Tam. Giải mẫu (解 拇) ở hào Tứ là ý nói giải trừ hào Tam. Xạ chuẩn (射 隼) ở hào Thượng là ý nói bắn hào tam. Hữu phu (有 孚) ở hào Ngũ là ý nói đẩy lui hào Tam. Chỉ có hào Sơ Lục tài non địa vị thấp, không nhận trách nhiệm giải nạn, mà trong thời Giải lại được vô cữu.

Hiển nhiên, hoạn nạn của toàn quẻ tập trung ở hào Lục Tam, dẫn đến việc mọi người nổi lên và trừ khử nó. Hào Tam là hào âm, là hào trên của nội quải (Khảm), là ngụ ý mối nguy hại tiềm ẩn trong nội bộ. Như vậy, mâu thuẫn chủ yếu của việc giải nạn được đề cập trong quẻ này cũng chính là nhân tố trọng yếu gây nguy hại cho hoàn cảnh an ninh. Cái nhân tố đó quả thực tiềm ẩn trong nội bộ vậy.

Quẻ Lôi Thủy Giải với sự kiện Minh Thái Tổ Đăng Cơ

Quẻ Lôi Thủy Giải đã dự báo trước sự đăng cơ của Chu Nguyên Chương, người từ một vị thế là 1 chú tiểu của chùa Hoàng Giác, cuối cùng đã trở thành Hoàng Đế khai quốc của triều Minh.

Thôi Bối Đồ tượng 27 - Chu Thái Tổ đăng cơ
Thôi Bối Đồ tượng 27 – Chu Thái Tổ đăng cơ

Sấm viết:

Duy nhật dữ nguyệt, Hạ dân chi cực

Ứng vận nhi hưng, Kỳ sắc viết xích

Dịch nghĩa:

Chỉ nhật và nguyệt

Dân đen cùng cực

Ứng vận mà hưng

Màu sắc là đỏ

Tụng viết:

Chi chi diệp diệp hiện kim quang

Hoảng hoảng lãng lãng chiếu tứ phương

Giang đông ngạn thượng quang minh khởi

Đàm không thuyết kệ hữu chân vương

Dịch nghĩa:

Cành cành lá lá hiện kim quang

Rực rỡ chói lọi chiếu bốn phương

Giang đông trên bờ khởi ánh sáng

Luận không thuyết kệ có chân vương

Kim Thánh Thán bình chú

Tượng này nói về việc Minh Thái Tổ đăng cơ. Thái Tổ từng là hòa thượng ở chùa Hoàng Giác, thời Hồng Vũ thiên hạ hoà thuận yên ấm, đất nước thái bình.

Ý nghĩa của đồ hình Thôi Bối Đồ

Ở giữa bức tranh có một cây to cành lá xum xuê, ở hai bên trái phải phía trên đỉnh ngọn cây đều có một vòng tròn. Trên cành cây còn treo một cái thước gập của thợ xây nhà. Hai vòng tròn lần lượt tượng trưng cho nhật (mặt trời) và nguyệt (mặt trăng), nhật nguyệt kết hợp vói nhau tạo thành chữ “minh”(明 ). Cây là “mộc” (木), thước treo trên cây có hình chữ “L“, kết hợp lại sẽ tạo thành Chữ “chu” (朱) “Minh” là Chỉ triều Minh, CÒN “Chu” là chỉ Chu Nguyên Chương.

Ý nghĩa của bài thơ

Tượng này dự đoán sự kiện lịch sử Chu Nguyên Chương xây dựng nên triều Minh thay thế triều Nguyên, đóng đô ở Nam Kinh (Giang Đông).

Duy nhật dữ nguyệt” (chỉ có mặt trời và mặt trăng), ý nói nhật và nguyệt kết hợp với nhau, chính là ám chỉ triều Minh.

Kỳ sắc viết xích“(màu sắc là đỏ), ám chỉ sự thành lập triều Minh có liên quan với người họ Chu (“chu cũng là màu đỏ), tức là Chu Nguyên Chương.

Hạ dân chi cực” (dân đen cùng cực) ám chỉ Chu Nguyên Chương xuất thân trong gia đình nghèo đói, thuở nhỏ từng phải ăn xin nơi đầu đường xó chợ để sống qua ngày.

Luận không thuyết kệ có chân vương” đã dự đoán một cách chính xác về việc Chu Nguyên Chương đã từng sống nơi của Phật

Những năm cuối triều Nguyên, kẻ thống trị hủ bại, vô năng, dân chúng lầm than cơ cực. Trước cảnh tượng này, Chu Nguyên Chương đã lãnh đạo nhân dân khởi nghĩa, lật đổ sự thống trị của triều Minh, khiến thiên hạ thống nhất, có thể gọi là “ứng vận mà sinh“. “Cành cành lá là hiện kim quang, chói lọi tươi sáng chiếu bốn phương” cũng chính là đã dự đoán về cảnh tượng tươi sáng sau khi chính quyền mới được lập nên.

Ứng tượng quẻ Lôi Thủy Giải trong Kinh Dịch

Tượng này tương ứng với quẻ Lôi Thủy Giải trong “Kinh Dịch“, quẻ trên là quẻ Chấn, đại diện cho sấm, quẻ dưới là quẻ Khảm, đại diện cho mưa, hai thứ kết hợp với nhau mang nghĩa mưa xuân gieo xuống nhân gian, chóp loé sáng trong không trung, âm dương giao hòa, đánh thức vạn vật đang ngủ vùi, khắp đất trời tràn đầy sức sống.

Quẻ tượng là “Giải: lợi tây nam, vô sở vãng, kỳ lai phục, cát, Hữu du vãng, túc, cát

Có nghĩa là lúc này có thể hành quân tới phía tây nam, song nếu không thể xác định rõ mục tiêu, nên trở về theo đường cũ thì sẽ tốt hơn. Nếu đã xác đinh được mục tiêu, nên gấp rút hành quân, thời gian càng sớm càng may mắn.

Thoán viết: Giải, hiểm dĩ động, động nhi miễn hồ hiểm, giải. Giải iợi tây nam, vãng đắc chúng dã. Kỳ lai phục, cát. nãi đắc trung dã. Hữu du vãng, túc. cát, vãng hữu công đã. Thiên địa giải nhi lôi vũ tác. lôi vũ tác nhi bách quả thảo mộc giai giáp tích. Giải chi thời. đại hỹ tai“.

Quẻ nội của quẻ Lôi Thủy Giải là quẻ Khảm, tượng trưng cho sự nguy hiểm. quẻ ngoại là quẻ Chấn biểu thi sự biến động, toàn bộ quẻ tượng ý nói là khi gặp nguy hiểm, chủ động ứng phó có thể thoát khỏi nguy khốn.

Lợi tây nam” trong lời quẻ ý nói phía tây nam đại diện cho quẻ Khôn, đi về phía tây nam có thể nhận được sự giúp đỡ của mọi người.

Kỳ lai phục” có nghĩa là làm như vậy sẽ có thể chỉnh đốn hành vi.

Hữu du vãng, túc, cát” ý nói xác định được phương hướng rõ ràng sẽ có lợi về công danh bổng lộc.

Quẻ trên của quẻ Lôi Thủy Giải là quẻ Chấn, đại diện cho sấm, quẻ dưới là quẻ Khảm, đại diện cho mưa, giống như đất trời đổi mới, sấm và mưa cùng tới giúp đỡ. Trong tình thế này, cây cỏ theo đó mà sinh sôi phát triển, cho thấy trời đất đóng vai trò không thể thay thế trong quá trình sinh trường của vạn vật.

“Tượng viết: Lôi vũ tác, giải, quân từ dĩ xá quá hựu tội“.

Lời tượng cho rằng quẻ Chấn và Khảm kết hợp với nhau, tượng trưng cho vạn vật sinh sôi nảy nở, khuyên răn quân chủ mới lên ngôi cần đối đãi khoan dung với dân chúng, đại xá thiên hạ. Quẻ này dự đoán sau khi Minh Thái Tổ Chu Nguyên Chương lãnh đạo quân Hồng Cân tiêu diệt triều Nguyên, đã xây dựng nên chính quyền của mình, khôi phục lại sự thống trị của người Hán, tiến hành cải cách trong mọi lĩnh vực, mở ra một triều đại phát triển theo hướng thịnh vượng.

Ứng Tượng hào Sơ quẻ Lôi Thủy Giải

“Sơ Lục: Vô cữu

Có nghĩa là không có tai hoạ.

“Tượng viết: Cương nhu chi tế, nghĩa vô cưu dã“.

Lời tượng cho rằng hào Sơ Lục nối tiếp hào Cửu Tứ, sẽ cho thấy tình thế “cương nhu tương tế”, so sánh vói quân chủ và thân dân, vợ và chồng có thể đồng tâm hiệp lực, sẽ không có chuyện gì xấu xảy ra.

Hào này dự đoán Chu Nguyên Chương hăm hở tham gia đội quân Hồng Cân, bắt đầu sự nghiệp chống Nguyên. Nhờ giỏi đối nhân xử thế, chiến đấu anh dũng mà Chu Nguyên Chương mau chóng trở thành trợ thủ đắc lực cho thủ lĩnh Quân khởi nghĩa Quách Tử Hưng.

Ứng Tượng hào Cửu Nhị quẻ Lôi Thủy Giải

“Cửu nhị: Điền hoạch tam hồ, đắc hoàng thỉ. Trinh cát”.

Có nghĩa là trong lúc đi săn, bắt đươc ba con chồn, còn thu hồi lại ba mũi tên đồng, đây là dấu hiệu may mắn.

“Tượng viết: Cửu nhị trinh cát, đắc trung đạo dã“.

Hào dương Cửu Nhị đại diện cho sự việc may mắn, bởi vì nó ở vị trí giữa của quẻ dưới, biểu thị người này bước vào con đường đúng đắn.

Hào này dự đoán Chu Nguyên Chương tham gia quân khởi nghĩa, đối với ông đây là sự lựa chọn đúng đắn. Ông có thể thu hút hào kiệt khắp nơi, chiêu mộ binh tướng rộng khắp, khiến thanh thế quân khởi nghĩa ngày một lên cao, đặt nền móng quân sự vững chắc cho việc giành chính quyền thành công sau này.

Ứng Tượng hào Lục Tam quẻ Lôi Thủy Giải

“Lục Tam: Phụ thả thặng, trí khấu chí, trinh lận“.

Ý nói mang theo quá nhiều tài sản khi xuất hành, sẽ không chỉ khiến bản thân vác nặng, mà còn phải đẩy xe ngựa mới có thể tiến lên đươc, như vậy sẽ thu hút đạo tặc nhòm ngó, là việc không may mắn.

“Tượng viết: Phụ thả thặng, dã khả sửu dã, tự ngã trí nhung, hựu thuỷ cữu dã?”

Lời tượng cho rằng mang vác của cải đi khắp nơi sẽ thu hút sự chú ý của đạo tặc, như vậy có thể trách ai được đây?

Hào này nói rõ sở dĩ quân khởi nghĩa phản kháng triều Nguyên là vì kẻ thống trị của triều Nguyên bắt dân chúng lao dịch, sưu cao thuế nặng, vơ vét hết của cải trong thiên hạ, đương nhiên dẫn tơi sự bất mãn của bách tính. Trước sức ép của quân khởi nghĩa, kẻ thống trị triều Nguyên mang theo một lượng lớn vàng bạc chạy trốn tới vùng biên giới phía bắc, trên đường đi bị dân chúng khắp nơi vây bắt, chặn đường, không nói cũng biết là nguy khốn thế nào.

Ứng Tượng hào Cửu Tứ quẻ Lôi Thủy Giải

“Cửu Tứ. Giải nhi mẫu, bằng chí tư phu“.

Có nghĩa sau khi thu được ích lợi lại trở nên lười biếng, kết quả là bị kẻ địch bắt làm tù binh.

“Tượng viết: Giải nhi mẫu, vị đáng vị dã“.

Lời tượng cho rằng kẻ lười nhác với công việc của mình là không xứng với chức vị hiện có.

Hào này ý nói một bộ phận tướng lĩnh quân khởi nghĩa sau khi giành được thắng lợi đã trở nên lười biếng, chỉ muốn sống hưởng thụ. Sau khi phát hiện chuyện này, Chu Nguyên Chương đã cách chức những người đó, chỉnh đốn lại kỷ cương quân đội, nhận được sự ủng hộ của bách tính.

Ứng Tượng hào Lục Ngũ quẻ Lôi Thủy Giải

“Lục Ngũ: Quân tử duy hữu giải, cát, hữu phu dữ tiểu nhân“.

Ý nói quân tử sau khi bị bắt lại được thả là chuyện may mắn, tiểu nhân cũng vì vậy mà bị trừng phạt.

“Tượng viết: Quân tử hữu giải, tiểu nhân thoái dã.

Lời tượng cho rằng, bãi bỏ chức tước của gian thần tặc tử mới có thể khiến chí hướng của quân vương tiến xa.

Hào này ứng với sự việc sau khi Chu Nguyên Chương đăng cơ, đã tống giam các đại thần, tướng lĩnh gây uy hiếp cho mình vào ngục, nhờ thế mà hoàng quyền được củng cố.

Ứng Tượng hào Thượng Lục quẻ Lôi Thủy Giải

“Thượng Lục: Công dụng xạ chuẩn vu cao dung chi thượng, hoạch chi, vô bất lợi“.

Có nghĩa là quân chủ đứng trên gác lầu cao bắn trúng con chim ưng, lại bắt được nó, sẽ không gặp nguy hiểm.

“Tượng viết: Công dụng xạ chuẩn, dĩ giải bội dã“.

Lời tượng cho rằng, quân chủ lấy cung tên bắn chim ưng là để trừ hại.

Ở đây nói về việc Chu Nguyên Chương sát hại trọng thần, Nguyên Thuận Đế chạy trốn tới phương bắc cũng u uất mà chết, lúc này Chu Nguyên Chương mới cho rằng giang sơn vương triều Minh không còn mối đe dọa nào, cơ nghiệp đã ổn định vững chắc.

Lịch sử ẩn phía sau tượng

Năm 1328, Chu Nguyên Chương sinh ra trong một gia đình nông dân nghèo ở Hào Châu (tỉnh An Huy), ông là con thứ tám trong gia đình, bởi vậy còn được gọi là Chu Trọng Bát. Sau này, cha mẹ và các anh của ông đều qua đời trong một trận dịch, khiến cậu bé Chu Nguyên Chương vốn sống trong đói khổ, giờ lại thêm thiếu thốn tình cảm, không nơi nương tựa, tình thế cùng quẫn đã đưa Chu Nguyên Chương tới nơi cửa Phật.

Trong lúc bơ vơ, Chu Nguyên Chương chợt nhớ có lần từng tới chùa Hoàng Giác nghỉ nhờ qua đêm, nên đã tới đây xin làm hoà thượng và trở thành một chú tiểu tại chùa Hoàng Giác. Công việc hàng ngày của ông là quét dọn chùa, thắp hương, gõ chuông đánh trống, nấu cơm, giặt quần áo. Dù bận rộn luôn tay luôn chân, song ông vẫn thường xuyên bị lão hoà thượng mắng mỏ. Tuy bề ngoài ông không phản kháng, song trong lòng rất tức tối, cá tính chống đối đã dần dần hình thành trong ông từ đó.

Tương truyền có một lần, khi ông đang quét chùa, không cẩn thận bị vướng vào tượng thần hộ pháp bảo vệ chùa, thế là ông tiện tay vung chổi quất mạnh liền mấy cái vào pho tượng. Một lần khác, do chuột cắn hỏng nến trên đại điện, lão hoà thượng vì vậy đã mắng cho Chu Nguyên Chương một trận. Chu Nguyên Chương bực tức nghĩ thầm:

“Thân hộ pháp này ngay cả đồ vật dưới mắt mình còn không bảo vệ được, thì còn nói gì tới bảo vệ toàn bộ vũ trụ? Đã thế còn liên lụy tới mình để mình bị mắng!”

Ông càng nghĩ càng tức, bèn viết vào phía sau lưng thần bộ pháp một dòng chữ:

“Phát phối tam thiên lý” (sung quân ba nghìn dặm).

Chu Nguyên Chương không cam chịu áp bức đã công khai phản kháng vận mệnh theo phương cách đó.

Vào chùa Hoàng Giác chưa đầy hai tháng, gặp đúng năm thiên tai đói kém, nhà chùa gặp khó khăn, đành phải giải tán tăng ni. Rời khỏi chùa Hoàng Giác, Chu Nguyên Chương không biết đi về đâu, nên đã trở thành kẻ ăn xin. Những ngày tháng sau đó, ông vừa đi vừa xin ăn, nghe nói ở đâu dễ thở hơn thì đi tới đó.

Cuộc sống ăn xin nơi đầu đường xó chợ như vậy đã kéo dài suốt nhiều năm trời, ông tới rất nhiều nơi, cũng hiểu rõ phong tục tập quán các nơi, nhờ thế mà tầm mắt được mở rộng. Quan trọng hơn là, những ngày tháng gian khổ đã giúp ông hình thành nên tính cách kiên cường quả cảm. Đối với Chu Nguyên Chương, đây chính là một tài sản rất lớn trong cuộc đời.

Những năm tháng Chu Nguyên Chương lưu lạc cũng chính là thời kỳ khởi nghĩa nông dân liên tiếp nổ ra vào cuối triều Nguyên. Lúc đó kẻ thống trị đã phân con người thành bốn đẳng cấp, đẳng cấp thứ nhất là người Mông Cổ, sau đó lần lượt là người Sắc Mục (tức người Tây Vực), người Hán, người Nam.

Theo quy định khi đó, giết người Mông Cổ phải đến mạng, giết người Sắc Mục phạt 80 lượng bạc, giết người Hán chỉ cần nộp phạt một con la. Khi đó người Hán và người Nam đều bị xem là tiện dân, họ không được phép có vũ khí riêng, mấy gia đình dùng chung một con dao. Tệ hơn nữa là, họ cũng không có tên của riêng mình, mà chỉ được gọi theo ngày sinh. Chế độ lao dịch, thuế má lúc đó rất nặng hè, lại thêm thiên tai liên miên, khiến mất mùa thường xuyên, nhân dân khắp nơi đói khổ. Đây chính là lý do khiến nông dân vùng lên khởi nghĩa khắp nơi vào cuối triều Nguyên.

Sống đời lưu lạc, Chu Nguyên Chương tận mắt chứng kiến cuộc sống cơ cực, đói khổ của người dân, bản thân ông cũng vô cùng khổ sở, không nơi nương tựa nên đã tham gia vào hàng ngũ quân khởi nghĩa nông dân.

Tuy nhiên, Chu Nguyên Chương không đơn thuần là muốn thoát khỏi biển khổ, mà ông là người có hoài bão lớn lao. Khi đó trong xã hội thịnh hành câu nói “minh vương xuất thế, phổ độ chúng sin”, Bạch Liên giáo nổi tiếng thời đó cũng giương cao khẩu hiệu này. Chu Nguyên Chương bình tĩnh quan sát tất cả. Ông ý thức được rằng: đại loạn trong thiên hạ đã sắp bùng nổ! Cần phải lập nên nghiệp lớn trong lúc thời thế đổi thay! Thế là, ông lại trở về chùa Hoàng Giác. Trở về chùa lần này, ông đã không còn là chú tiểu năm nào nữa.

Theo ghi chép trong lịch sử, Chu Nguyên Chương khi đó “mặt có nếp nhăn, trên mặt đầy nốt rỗ do đậu mùa, cằm nhô ra một cách khác thường”. Những đặc điểm ngoại hình khác thường này khiến mọi người có cảm giác kiêng nể ông. Từ đó, Chu Nguyên Chương nỗ lực học tập, kết giao bạn bè, chuẩn bị tích cực cho việc tạo dựng sự nghiệp sau này.

Năm 1351, thủ lĩnh Bạch Liên giáo lãnh đạo nông dân khởi nghĩa. Tháng 8 năm đó, quân Hồng Cân cũng tuyên bố khởi nghĩa. Năm 1352, Quách Tử Hưng chiêu mộ quân khởi nghĩa tại Hào Châu, số người tới tham gia ngày càng đông. Chu Nguyên Chương lúc này đứng ngồi không yên, suy nghĩ rằng: “cứ sống ở chùa thì thế nào cũng có ngày quan binh tới bắt đi, chi bằng hãy tham gia quân khởi nghĩa”. Đúng lúc đó, ông nhận được thư của người bạn thuở nhỏ là Dương Hoà, trong thư Dương Hoà khuyên ông gia nhập quân khởi nghĩa. Và thế là, Chu Nguyên Chương đã trở thành một người lính trong đội quân khởi nghĩa do Quách Tử Hưng lãnh đạo. Năm đó ông 25 tuổi.

Sau khi gia nhập quân khởi nghĩa, nhờ có thành tích xuất sắc mà Chu Nguyên Chương mau chóng được Quách Tử Hưng khen ngợi và trọng dụng. Ông được điều tới soái phủ, đảm nhận chức thân binh cửu phu trưởng. Chu Nguyên Chương chiến đấu anh dũng, mỗi lần ra trận đều giữ vị trí tiên phong. Ông còn có tài đối nhân xử thế, mỗi khi thu được chiến lợi phẩm, đều không hưởng một mình và chia sẻ với Quách Tử Hưng. Còn khi được Quách Tử Hưng ban thưởng, lại đem phân phát cho mọi người . Nhờ thế mà ông dần dần tạo dựng được danh tiếng tốt đẹp trong nghĩa quân.

Tất cả những việc làm này đều không lọt qua mắt Quách Tử Hưng, khiến Quách Tử Hưng ngày càng yêu mến Chu Nguyên Chương, mỗi khi có việc hệ trọng đều gọi Chu Nguyên Chương lại hỏi ý kiến rồi mới quyết định. Lần nào, Chu Nguyên Chương cũng phân tích chính xác tình hình thực tế, còn đưa ra nhiều kiến giải khác nhau. Trong mắt Quách Từ Hưng, Chu Nguyên Chương quả là một nhân tài hiếm có, là trợ thủ đắc lực cho sự nghiệp của mình. Quách Tử Hưng còn gả con gái nuôi của mình cho Chu Nguyên Chương.

Từ đó về sau, mọi người trong quân đội đã gọi ông là Chu công tử. Ông cũng chính thức đổi tên Chu Trọng Bát thành Chu Nguyên Chương. Chữ “Chu” (朱) trong Chu Nguyên Chương cùng âm đọc với chữ “Tru” (誅) có nghĩa là chém giết, “chương” (璋) là một loại đó ngọc thời cổ đại. Chu Nguyên Chương có nghĩa là tiêu diệt triều Nguyên.

Năm 1353, Chu Nguyên Chương trở về quê hương chiêu mộ quân khởi nghĩa. Bạn thuở nhỏ của ông là Từ Đạt nghe nói ông đã trở thành một lãnh đạo trong quân khởi nghĩa, đã tới đầu quân. Lần đó, ông đã chiêu mộ được hơn 700 quân. Sau khi trở về Hào Châu, Quách Tử Hưng hết lời khen ngợi ông, đồng thời cất nhắc ông làm trấn phủ. Kỳ thực, Chu Nguyên Chương về quê chiêu mộ nghĩa quân cũng có tính toán riêng cho mình.

Trong đội quân khởi nghĩa ở thành Hào Châu khi đó, quân Hồng Cân có tổng cộng 5 nguyên soái. Trong đó Quách Tử Hưng tự tạo thành 1 phái, 4 nguyên soái còn lại tạo thành 1 phái. Giữa hai phái đã xảy ra tranh quyền đoạt thế, mâu thuẫn ngày càng gay gắt. Chu Nguyên Chương đã quyết định thu phục thiên hạ dựa vào sức mạnh của mình. Trong lần về quê mộ quân, ông đã từng bước phát triển thế lực của mình. Ông chọn ra 24 người trong số quân đã chiêu mộ được (trong đó có Từ Đạt và Dương Hòa), rời khỏi Hào Châu.

Chu Nguyên Chương dẫn 24 người này đi về phía đông, công phá doanh trại quân Nguyên ở núi Hoành Giản, Định Viễn. Thủ lĩnh quân Nguyên là Mâu Đại Hanh đầu hàng. Chu Nguyên Chương chọn được hai vạn quân Hán tinh nhuệ từ trong số binh sĩ đầu hàng của quân Nguyên, nhờ thế mà đội quân của ông nhanh chóng trở nên hùng mạnh, sau đó thẳng tiến xuống phía nam, tới Trừ Châu. Đội quân Chu Nguyên Chương công chiếm thuận lợi thành Trừ Châu. Không lâu sau đó, Quách Tử Hưng dẫn quân tới Trừ Châu. Chu Nguyên Chương dẫn 3 vạn quân của mình tới sáp nhập với quân của Quách Tử Hưng. Thấy Chu Nguyên Chương giao binh quyền cho mình, Quách Tử Hưng vô cùng phấn khởi. Năm 1355, bằng sự mưu trí của mình, Chu Nguyên Chương đã lãnh đạo quân khởi nghĩa công chiếm Hòa Châu, sau thắng lợi này, ông được Quách Tử Hưng đề bạt làm quan tổng binh.

Có một lần, trong lúc đi ra ngoài, Chu Nguyên Chương gặp một đứa trẻ đang khóc thảm thiết. Ông bèn lại hỏi đứa trẻ vi sao mà khóc. Đứa trẻ trả lời rằng đang đợi cha của mình. Hoá ra, cha mẹ của đứa trẻ đều làm trong doanh trại của nghĩa quân, người cha phụ trách việc nuôi ngựa, hai vợ chồng không dám lộ thân phận, chỉ giả vờ là anh em. Chu Nguyên Chương lập tức ý thức được rằng kỷ cương quân đội còn lỏng lẻo. Sau khi công chiếm được Hòa Châu, nghĩa quân cướp bóc, quấy nhiễu dân chúng, còn giở trò bắt bớ phụ nữ, lâu dần đã làm mất lòng tin của dân chúng.

Sau khi trở về doanh trại, Chu Nguyên Chương xây dựng chế độ kỷ luật quân đội nghiêm minh, tất cả những phụ nữ có chồng trong quân đội đều được về bên chồng, không còn cảnh vợ chồng phân tán. Hành động này của Chu Nguyên Chương đã được người dân hết lời ca ngợi, điều này có tác dụng quan trọng giúp ông chiếm được cảm tình dân chúng.

Sau này. Quách Tử Hưng bệnh nặng qua đời. Con trai Quách Tử Hưng là Quách Thiên Tự đảm đương chức nguyên soái, em vợ là Trương Thiên Hựu làm hữu phó nguyên soái, Chu Nguyên Chương giữ chức tả phó nguyên soái. Nếu so sánh ba người này, dù là sự quả cảm trong chiến đấu, hay vạch mưu lược kế sách thì Quách Thiên Tự và Trương Thiên Hựu đều không bằng Chu Nguyên Chương. Quan trọng hơn là, đại bộ phận nghĩa quân ở Trù Châu, Hoà Châu đều do Chu Nguyên Chương chiêu mộ thu nạp. Do Vậy, Chu Nguyên Chương mới thực sự là lãnh đạo của toàn bộ nghĩa quân.

Không những có ưu thế về mặt quân sự, Chu Nguyên Chương còn biết cách chiêu mộ nhân tài. Trong quá trình xây dựng triều Minh, ông đã trọng dụng những người như Lý Thiện Trường, Chu Thăng. Họ đều là những nhân vật từng được Chu Nguyên Chương đón tiếp tại Lễ Hiền quán (nơi Chu Nguyên Chương chuyên dùng để đón tiếp nhân tài).

Sau đó, quân khởi nghĩa do Chu Nguyên Chương lãnh đạo đã liên tiếp giành thắng lợi. Năm 1367, nghĩa quân chiếm lĩnh kinh thành Đại Đô (Bắc Kinh) của triều Nguyên, khiến vị hoàng đế cuối cùng của triều Nguyên là Nguyên Thuận Đế phải mang theo hậu phi, thái tử bỏ chạy. Từ đây, dân tộc Mông Cổ đã mất đi quyền thống trị đối với Trung Nguyên. Năm 1368, Chu Nguyên Chương đăng cơ ở Nam Kinh, đổi quốc hiệu là Đại Minh. Từ một chú tiểu ở chùa Hoàng Giác, Chu Nguyên Chương cuối cùng đã trở thành hoàng đế khai quốc của triều Đại Minh.

Khi triều Minh mới thành lập, Chu Nguyên Chương từng nói: “Thiên hạ mới định, dân chúng đang vô cùng thiếu thốn, giống như con chim non vừa mới học bay, nhất thiết không được làm gãy cánh, cũng lại giống như cây non mới trồng, nhất thiết không được lay gốc. Điều quan trọng lúc này là nghỉ ngơi dưỡng sức“.

Do vây, Chu Nguyên Chương đã thực thi chính sách cá nước nghỉ ngơi, khích lệ dân chúng khai khẩn ruộng hoang, phát triển sản xuất, miễn thuế ba năm, còn chú trọng xây dựng thuỷ lợi và cứu tế dân chúng bị thiên tai. Những chinh sách này đã mang lại tác dụng nhất định. Lời tụng viết “Cành cành lá lá hiện kim quang, rực rỡ chói lọi chiếu bốn phương” chính là nói tới cảnh dân chúng được hưởng cuộc sống yên bình.

Tuy nhiên, chính sách lạm sát sau này của Chu Nguyên Chương đã mau chóng bao phủ một bầu không khí u ám, hoang mang khép triều đình.

Năm đó đã có rất nhiều công thần dựng nước bị xử chém dưới tay Chu Nguyên Chương. Hoàng thái tử Chu Tiêu cực lực phản đối cách làm này của cha, Chu Nguyên Chương bèn đặt một bó cây đầy gai nhọn tua tủa xuống đất, lệnh cho thái tử nhặt lên. Sợ tay bị đâm chảy máu, Chu Tiêu không chịu tuân lệnh. Chu Nguyên Chương bèn nói: “Những thứ cha trừ bỏ đều là gai nhọn sẽ làm tổn thương đôi tay con“. Chu Nguyên Chương làm vậy là để thái tử hiểu rõ dụng ý của ông, nào ngờ thái tử lại nói: “Hoàng đế như thế nào thì thần dân cũng sẽ như thế”.

Hành vi lạm sát công thần của Chu Nguyên Chương đã mang lại mối hoạ to lớn cho người kế tục ngôi vị của ông sau này.

Comment ngay nếu có gì thắc mắc về quẻ Lôi Thủy Giải để nhận giải đáp trực tiếp từ Ad nhé !!!

(Series bài viết Hướng dẫn tự học Kinh Dịch Tại chuyên mục Giáo Dục dành cho Newbie được viết bởi Phú Hà

Để trở về trang chủ mời quý khách Click Tại Đây)

8 BÌNH LUẬN

  1. Nhìn đi nhìn lại vẫn ưng cái ảnh đại biểu thị tượng quẻ Lôi thủy giải mà ad đã chọn, có sấm chớp có mưa rơi trên mảnh ruộng khô cằn, thật đúng là lôi thủy giải, ka ka

  2. Phần trình bày quẻ lôi thủy giải cũng mới lạ, đa phần là lời bàn của các nhà nghiên cứu, như thế sẽ có thêm nhiều góc nhìn mới, thank bạn 🙂

  3. Phần trình bày quẻ lôi thủy giải cũng mới lạ, đa phần là lời bàn của các nhà nghiên cứu, như thế sẽ có thêm nhiều góc nhìn mới, thank bạn 🙂

BÌNH LUẬN

Please enter your comment!
Please enter your name here