Ý nghĩa, giải quẻ Lôi Phong Hằng – Quẻ dịch số 32 – Kinh dịch

33
2438

Quẻ Lôi Phong Hằng nói về tình nghĩa thủy chung của vợ chồng. Gắn bó keo sơn mãi không thay đổi là ý nghĩa quẻ Lôi Phong Hằng

Nam nữ gặp nhau đem lòng cảm mến tất sẽ gần gũi xây dựng gia đình, cho nên quẻ Lôi Phong Hằng mới tiếp nối quẻ Trạch Sơn Hàm, Hằng là không thay đổi, mãi mãi bên nhau nên quẻ Lôi Phong Hằng mang hàm nghĩa vợ chồng mãi mãi bên nhau đến đầu bạc răng long.

Phu xướng phụ tùy gia đạo hanh.

Lâu dài hạnh phúc yến vờn oanh.

Vĩnh hằng giai ứng cương nhu giả.

Trăng dõi hoa tường ý tứ sanh.

Thượng quái là Chấn (sấm). Hạ quái là Tốn (gió). Quẻ có tên là Lôi Phong Hằng

Có thể bạn cần tham khảo thêm Quẻ Hỏa Trạch Khuê

Hoặc tham khảo thêm   Quẻ Bát Thuần Ly

Quẻ Lôi Phong Hằng – Giải nghĩa

Quẻ Lôi Phong Hằng có quẻ thượng Chấn, quẻ Chấn có tượng là chân, là động, quẻ hạ Tốn, Tốn là gió là nhanh, chân đi tạo ra gió nên quẻ Lôi Phong Hằng có tượng là bước đi.

Theo thuyết văn, Hằng là thường vậy. Trên giáp cốt văn và kim văn, chữ Hằng đều có hình mặt trăng, mà mặt trăng có khi tròn khi khuyết nên có tượng vô thường. Tuy có khi tròn khi khuyết nhưng mặt trăng lại chuyển động không ngừng, mỗi ngày đi tám vạn dặm. Người ta luôn luôn bước đi, là tuyệt đối, dừng lại là tạm thời, là tương đối. Nên quẻ Lôi Phong Hằng có hàm nghĩa mãi mãi, vĩnh hằng…

Thoán từ quẻ Lôi Phong Hằng

Lời Thoán quẻ Lôi Phong Hằng viết:

Hằng. Hanh. Vô cữu. Lợi trinh. Lợi hữu du vãng. (恆, 亨, 無 咎, 利 貞, 利 有 攸 往)

Dịch nghĩa: Quẻ Lôi Phong Hằng, (bói được quẻ này) mọi sự hanh thông, không có vấn đề gì, gieo quẻ bói toán thì có lợi (cứ tiếp tục kiên trì như thế thì có lợi), đi ra ngoài gánh vác công việc thì sẽ thành công.

Giải thích lời thoán quẻ Lôi Phong Hằng:

Wilhelm dịch “Hằng” (恆) là sự kéo dài và giảng: Hào dương Chấn ở trên, quẻ âm nhu Tốn ở dưới. Quẻ Lôi Phong Hằng này ngược lại với quẻ Trạch Sơn Hàm. Trong quẻ Hàm nói đến chuyện ảnh hưởng, ở đây chúng ta có chuyện phối hợp là một điều kiện lâu bền. Hai hình tượng là sấm và gió, là hai hiện tượng đi cặp với nhau. Quẻ dưới tượng trưng cho sự ôn nhu bên trong, quẻ trên tượng trưng cho chuyển động ở bên ngoài. Trong phạm vi quan hệ xã hội, quẻ Lôi Phong Hằng thể hiện định chế hôn nhân như sự kết hợp lâu dài của 2 giới tính khác nhau. Trong thời gian đeo đuổi chàng trai phải khuất thân hạ mình đối với một thiếu nữ, nhưng trong hôn nhân, người chồng là sức mạnh chuyển động và chỉ đạo ở bên ngoài (xã hội), trong khi người vợ ở bên trong (gia đình) có thái độ ôn nhu và cung thuận.

Từ Tử Hùng giảng: Nhìn từ góc độ của thế giới tự nhiên, gió và sấm sét kích thích vạn vật làm cho vũ trụ luôn luôn được mới mẻ thanh tân. Nhìn từ góc độ xã hội, chấn là dương, tốn là âm, dương trên âm dưới, chính là biểu tượng quân quý dân tiện, nam tôn nữ ty, cái gọi là cương thường vĩnh hằng không thay đổi trong chế độ phong kiến. Quân tử nên kiên trì đi theo con đường này, lấy đạo lý cương thường để bảo trì nó. (Tòng tự nhiên giới khán, phong lôi kích đãng, sử vũ trụ thường tân. Tòng xã hội thượng khán, chấn vi dương, tốn vi âm, dương thượng âm hạ, chính tượng quân quý dân tiện, nam tôn nữ ty, sở vị vĩnh hằng bất biến đích phong kiến cương thường. Quân tử kiên thủ thử đạo, trì chi dĩ hằng).

Trong Tự Quái Truyện có viết: “Đạo vợ chồng không thể không trường cửu, nên đón nhận đạo đó làm đạo “hằng”, “hằng” tức là trường cửu vậy. (Phu phụ chi đạo, bất khả dĩ bất cửu dã, cố thụ chi dĩ hằng, hằng giả, cửu dã). Soán truyện và Tạp Quái Truyện đều giảng “hằng” (恆) là trường cửu (長 久)

Đại tượng quẻ Lôi Phong Hằng

Lời tượng quẻ Lôi Phong Hằng viết:

Lôi phong. Hằng. Quân tử dĩ lập bất dịch phương. (象 曰: 雷 風 , 恆,  君 子 以 立 不 易 方)

Dịch nghĩa: Chấn (sấm) trên, Tốn (gió) ở dưới, là hình tượng quẻ Lôi Phong Hằng, quân tử xem xét hình tượng này lập thân nơi chính đạo, kiên trì theo đạo cương thường không thay đổi.

Đại tượng quẻ Lôi Phong Hằng
Đại tượng quẻ Lôi Phong Hằng

Giải thích lời tượng quẻ Lôi Phong Hằng:

Trương Thiện Văn và Hoàng Thọ Kỳ dịch câu trên như sau: “Sấm dâng gió nổi (thường tương giao hỗ trợ cho nhau) tượng trưng cho sự vững bền, quân tử nhân đó kiến lập tư tưởng chính xác lâu bền không đổi” (lôi phát phong hành (thường tương giao trợ) tượng trưng “hằng cửu”, quân tử nhân thử thụ lập hằng cửu bất biến đích chính xác tư tưởng).

Wilhelm dịch: Sấm và gió: hình tượng vững bền. Như thế quân tử đứng vững và không thay đổi chỉ hướng của mình.

Hào Sơ Lục quẻ Lôi Phong Hằng

Lời hào Sơ Lục quẻ Lôi Phong Hằng viết:

Sơ lục. Tuấn hằng. Trinh hung. Vô du lợi. (浚 恆 . 貞 凶 . 無 攸 利)

Dịch nghĩa: Hào 1 quẻ Lôi Phong Hằng là hào âm: Quá nôn nóng muốn thiết lập những quan hệ bền vững ngay từ đầu, cứ tiếp tục khăng khăng theo kiểu đó thì mang họa, chẳng làm được cái gì có ích cả.

Quẻ Lôi Phong Hằng - Hào Sơ Lục
Quẻ Lôi Phong Hằng – Hào Sơ Lục

Giải thích hào Sơ Lục quẻ Lôi Phong Hằng:

“Tuấn” (浚) (âm Bắc Kinh hiện đại là |jùn/) theo Trương Thiện Văn và Hoàng Thọ Kỳ có nghĩa là “sâu” (thâm 深 ).

Lục Hy Thanh trong Chu Dịch nghĩa hải toát yếu giảng:

Thường xuyên làm việc nghĩa, quý ở chỗ hành sự kiên trì, mỗi ngày thấm một chút. Hào Sơ Lục là lúc mở đầu, cốt ở chỗ lấy cái từ từ làm đạo thường. Nhưng hào này, tuy thế ôn nhu thuận, tính lại nôn nóng, cầu vào sâu ngay, như vậy là trái với đạo bền vững, không thể coi là đạo thường hằng được (thường chi vi nghĩa, quý cửu ư kỳ đạo, nhật dĩ tẩm thâm. Sơ vi thường thủy, nghi dĩ tiệm vi thường, nhi thể tốn tính tháo, cự cầu thâm nhập, thị thất cửu ư kỳ đạo chi nghĩa, bất khả dĩ vi thường).

Bản Bạch Thư Chu Dịch không chép “Tuấn” (浚) mà chép là “quýnh” (敻) (huyễn, âm Bắc Kinh hiện đại là /xiòng/) có nghĩa là cầu cạnh, kinh doanh. Đoàn Ngọc Tài chú âm “hính” (hủ chính thiết 朽 正 切 ), theo cổ âm thuộc bộ 14, vận bộ “kính” (敬). Như vậy “quỳnh” (敻) và “kính” (敬) âm vận tương thông. Còn chữ “tuấn” (浚) theo Quảng Nhã Thích hỗ giảng là “kính cẩn” (tuấn, kính dã). Như vậy nghĩa của ba chữ “quýnh” (敻) , “kính” (敬) và “tuấn” (浚) giống nhau. Nhưng bản thân chữ “quýnh” (敻) thì Quảng Nhã Thích hỗ lại giảng là “xa xôi” (quỳnh, viễn dã).

Cốc Lương Truyện (Văn Công năm thứ 14) có câu: “Nước xa có ngàn cỗ xe” (quýnh thiên thặng chi quốc). Cao Dụ khi chú giải Lã Thị Xuân Thu giảng “quýnh” là “lớn, xa” (đại dã, viễn dã). Trương Lập Văn dịch “tuấn hằng” (浚 恆) là “truy cầu sự bền vững một cách quá đáng” (quá phân truy cầu hằng cửu).

Lạ nhất là Từ Tử Hùng giảng “tuấn” (浚) là “đào đất” (oát thổ) và cho rằng “tuấn hằng” (浚 恆) là đảo trang của “hằng tuấn” (恆 浚) có nghĩa là đào đất không ngừng (bất đình địa oát thổ).

Wilhelm dịch hào trên là: “Tìm kiếm sự bền vững quá vội vã đem đến bất hạnh thường xuyên. Không có gì sẽ phát triển thêm”.

Hào Cửu Nhị quẻ Lôi Phong Hằng

Lời hào Cửu Nhị quẻ Lôi Phong Hằng viết:

Cửu nhị. Hối vong. (九 二, 悔 亡)

Dịch nghĩa: Hào 2 quẻ Lôi Phong Hằng là hào dương chỉ sự hối tiếc đã qua.

Quẻ Lôi Phong Hằng - Hào Cửu Nhị
Quẻ Lôi Phong Hằng – Hào Cửu Nhị

Giải thích hào Cửu Nhị quẻ Lôi Phong Hằng:

Trương Thiên Văn và Hoàng Thọ Kỳ dịch “hối vong” (悔 亡) là hối hận tiêu vong. Wilhelm dịch tương tự. Từ Tử Hùng dịch: Không còn hối hận. (một hữu hối hận).

Trương Lập Văn dịch khác hẳn: “Khốn ách sắp hết” (khốn ách tương khứ).

Đây rõ ràng là một quẻ bói. Bói được hào này thì mọi hối tiếc về lỗi lầm đã qua coi như chấm dứt. Nói chung là một quẻ khá tốt.

Hào Cửu Tam quẻ Lôi Phong Hằng

Lời hào Cửu Tam quẻ Lôi Phong Hằng viết:

Bất hằng kỳ đức. Hoặc thừa chi tu. Trinh lận. (不 恆 其 德, 或 承 之 羞, 貞 吝)

 Dịch nghĩa: Hào 3 quẻ Lôi Phong Hằng là hào dương: (Nếu) không luôn luôn tu dưỡng đạo đức, ( tất nhiên) sẽ gặp chuyện nhục nhã, cứ khăng khăng (không chịu tu dưỡng) thì sẽ hối tiếc.

Quẻ Lôi Phong Hằng - Hào Cửu Tam
Quẻ Lôi Phong Hằng – Hào Cửu Tam

Giải thích hào 3 quẻ Lôi Phong Hằng:

Trương Lập Văn dịch hào trên là:

Không có thể mãi mãi bảo trì đức hạnh của mình mà cứ sáng ba chiều bốn (ý nói, chỉ đổi cách nói còn mọi sự đâu vẫn hoàn đấy), tất cả sẽ bị kẻ khác làm nhục, hành vi tuy chính đáng vẫn có thể gặp khó khăn” (Bất năng hằng cửu bảo trì kỳ đức hạnh nhi triều tam mộ tứ, tắc hoặc thụ tha nhân chi nhục, hành vi tuy chính, diệc hội ngộ đáo gian nan).

Chữ “hoặc” (或) trong cụm từ “hoặc thừa chi tu” (或 承 之 羞) có nghĩa là “có” (hữu dã). “Tu” (羞) có nghĩa là “sỉ nhục”. Trịnh Huyền cho rằng “hoặc” (或) là do chép nhầm chữ “hàm” (咸) và “hàm” có nghĩa là tất cả. (hàm, giai dã).

Hào Cửu Tứ quẻ Lôi Phong Hằng

Lời hào Cửu Tứ quẻ Lôi Phong Hằng viết:

Cửu tứ. Điền vô cầm. (田 無 禽)

Dịch nghĩa: Hào 4 dương của quẻ Lôi Phong Hằng có nghĩa là: Đi săn (mà bói được hào này) chẳng được cầm thú gì (vẽ tay không).

Quẻ Lôi Phong Hằng - Hào Cửu Tứ
Quẻ Lôi Phong Hằng – Hào Cửu Tứ

Giải thích hào 4 quẻ Lôi Phong Hằng:

“Điền” (田) có nghĩa là đi săn (điền liệp 田 獵).

“Cầm” (禽) theo Bạch hổ thông (chương Điền Liệp 田 獵) giảng là tiếng gọi chung của cầm thú. (cầm giả hà? điểu thú chi tổng danh).

Wilhelm cho rằng hào này khuyên muốn nói về việc một người đi tìm cầm thú nơi chẳng có con nào thì có thể phải chờ hoài một cách vô ích. Có nghĩa là làm việc gì cũng phải khởi sự từ một phương pháp đúng đắn.

Chúng tôi theo quan điểm của Wilhelm nên dịch như trên.

Hào Lục Ngũ quẻ Lôi Phong Hằng

Lời hào Lục Ngũ quẻ Lôi Phong Hằng viết:

Hằng kỳ đức, Trinh, Phụ nhân cát, Phu tử hung. (恆 其 德, 貞, 婦 人 吉, 夫 子 凶).

Dịch nghĩa: Hào 5 quẻ Lôi Phong Hằng là hào âm, hào này có hàm nghĩa: Luôn luôn tu dưỡng đạo đức bản thân, chuyện bói toán đối với đàn bà con gái thì tốt, còn đối với nam tử hán đại trượng phu là chuyện không nên làm.

Quẻ Lôi Phong Hằng - Hào Lục Ngũ
Quẻ Lôi Phong Hằng – Hào Lục Ngũ

Giải thích hào Lục Ngũ quẻ Lôi Phong Hằng:

Trong phần Tượng Truyện có nói: Đàn bà con gái trinh chính thì tốt, thủy chung một lòng với chồng. Đàn ông đặt định lễ nghĩa, lại đi theo phụ nữ thì xấu. (Phụ nhân trinh cát, tòng nhất nhi chung dã. Phu tử chế nghĩa, tòng phụ hung dã).

Cao Hanh bình giảng: Như thế đàn bà lấy việc theo chồng làm nghĩa, đường đi một chiều thẳng tắp, kiên trinh là tốt. Nam tử lấy nghĩa an bày mọi sự nên đường đi nhiều hướng, cứ cố chấp khăng khăng một hướng là xấu. (Cái phụ nhân dĩ tòng phu vi nghĩa, kỳ đạo nhất quỹ, hằng tắc cát. Phu tử dĩ nghĩa chế sự, kỳ đạo đa phương, hằng tắc hung).

Wilhelm bình giảng: Một phụ nữ nên theo chồng suốt đời, nhưng người đàn ông lúc nào cũng phải hoàn thành bổn phận vào một thời điểm nào đó. Cứ nhất mực muốn tuỳ thuận vào một người đàn bà là một sai lầm. Theo đó đàn bà dựa vào truyền thống một cách bảo thủ thì tốt, nhưng đàn ông thì phải linh động thích ứng và được hướng dẫn theo bổn phận đòi hỏi trong một hoàn cảnh thời khắc nhất định.

Hào Thượng Lục quẻ Lôi Phong Hằng

Lời hào Thượng Lục quẻ Lôi Phong Hằng viết:

Thượng lục. Chấn Hằng, Hung.  (振 恆, 凶)

Dịch nghĩa: Hào trên cùng của quẻ Lôi Phong Hằng là hào âm, hào này có hàm nghĩa: Lúc nào cũng hăng hái quá mức thì sẽ gặp nguy hiểm.

Quẻ Lôi Phong Hằng - Hào Thượng Lục
Quẻ Lôi Phong Hằng – Hào Thượng Lục

Giải thích hào Thượng Lục quẻ Lôi Hỏa Phong:

Bản Bạch Thư Chu Dịch chép “quýnh” (敻) thay cho “chấn” (振) nhưng ý nghĩa giống nhau. Thuyết văn giải tự giảng: “Chấn tức là chấn động” (chấn, động dã). Từ Tử Hùng giảng “chấn hằng” (振 恆) tức là “hằng chấn” (恆 振), có nghĩa là chấn động hoài không nghỉ (cửu động bất tức).

Trương Thiện Văn và Hoàng Thọ Kỳ giảng là: Đạo bền vững chấn động không yên. (chấn động bất an ư hằng cửu chi đạo). Lý Đỉnh Tộ cho rằng “chấn” (振) đây phải viết là “chấn” (震) (sấm động). Hai chữ này trong Hán cổ dùng thông nhau, ý nghĩa không khác.

Lão Tử đã nói: Tĩnh lặng là đứng đầu mọi hoạt động lăng xăng (tĩnh vi tháo quân), lại còn nói: Hoạt động lăng xăng là nguyên nhân chính đưa đến tiêu vong” (tháo tắc thất quân).

Wilhelm dịch “chấn hằng” (振 恆) là “tình trạng bồn chồn liên tục. Đây rõ ràng là một lời khuyên nên hành sự thận trọng, không nên quá bộp chộp, nóng nảy, mặc dù đôi khi sự quyết đoán mau lẹ như sấm chớp cũng rất cần thiết, đặc biệt trong những tình huống cấp bách, nhưng lúc nào cũng “sấm sét” thì tai họa sẽ ập ngay xuống đầu, vì cốt yếu của đạo “hằng” chính là hành sự từ từ, ôn nhu, mềm dẻo, linh động.

Tổng luận quẻ Lôi Phong Hằng

Trương Thiện Văn và Hoàng Thọ Kỳ tổng luận về quẻ Lôi Phong Hằng như sau: “Quẻ Lôi Phong Hằng nêu rõ nguyên lý “hằng cửu” trong sự vật, nên căn cứ theo nhân sự mà nói, tức là dạy dỗ giáo huấn cho mọi người, lập thân, xử thế cần phải có tinh thần kiên trì bền bỉ (trì chi dĩ hằng).

Quái Từ lấy “hanh, vô cữu, lợi trinh, lợi hữu du vãng” hết sức tán dương đạo Hằng có thể thực hiện được. Nhưng cả sáu hào trong quẻ Lôi Phong Hằng chẳng có hào nào tốt được hoàn toàn.

Hào Sơ Lục hấp tấp muốn thi hành ngay đạo Hằng, dục tốc bất đạt, khuyên nên giữ chính phòng nguy.

Hào Cửu Nhị thất vị, do có thể bền giữ cương trung, nên mới được “hối hận tiêu vong”.

Hào Cửu Tam giữ đức không bền, hoặc bị kẻ khác làm nhục, hoặc phải hối hận.

Hào Lục Tứ ngồi lâu ở địa vị không thích đáng, có vất vả cũng vô ích mà thôi.

Hào Lục Ngũ giữ đức nhu thuận bền bỉ, đối với phụ nữ thì tốt lành, nam nhân thì hung hiểm.

Thượng lục thì hiếu động lăng xăng không thể giữ được đạo hằng, phải gặp nguy hiểm.

Hiển nhiên, các hào tuy được mất bất đồng, nhưng tất cả đều chưa trọn nghĩa đạo thường hằng, cho nên Khâu Phú Quốc mới cảm khái than rằng:

“Đạo thường hằng há phải để nói đâu.” (Hằng chi đạo khởi dị ngôn tai)

Thứ đào sâu ngụ ý trong khái niệm Hằng, ta thấy dường như không phải một thời một việc tức khắc xong ngay. Ngạn ngữ nói “Lộ dao tri mã lực, nhật cửu thức nhân tâm” (đường dài mới biết sức ngựa, ngày dài mới biết lòng người) chính là cái lý đó.

Cho nên, trong một hào khó mà được hoàn cát (tốt tuyệt đối), đó là tôn chỉ của quẻ đã giới hạn, không thể khác hơn. Đến như hào Lục Ngũ khen “phụ nhân cát, phu tử hung” (婦 人 吉, 夫 子 凶), tuy là thí dụ tượng trưng, nhưng trong đó phản ảnh tư tưởng “phụ đức, nam quyền” (đức hạnh phụ nữ, quyền lực nam giới). Nó lại là nội dung cần phân tích kỹ và phê phán.

Xét đại ý toàn quẻ Lôi Phong Hằng, bất kể lời bói của các hào có lý tưởng hay không, cái đạo lý mà các tác giả Chu Dịch cho thấy là nhằm khuyên người ta nên giữ trinh chính mà xử đạo Hằng. Từ đó mà nói, tư tưởng “nhân quý hữu hằng” (con người quý ở kiên trì bền bỉ) quả là cốt lõi của yếu nghĩa tượng trưng trong quẻ Lôi Phong Hằng.

Tuân Tử trong Khuyến Học nói: Chạm khắc nửa chừng rồi bỏ, gỗ mục cũng không gãy, chạm khắc kiên trì, vàng đá cũng chạm khắc được. (Khiết nhi xả chi, hủ mộc bất chiết, khiết nhi bất xả, kim thạch khả lũ), và nói: Cố gắng kiên trì thì mới ngấm, học cho đến chết mới thôi. (Chân tích lực cửu tắc nhập, học chí hồ một nhi hậu chỉ dã). Những lời ấy tuy luận về sự học, nhưng cũng không khác với ý chỉ của quẻ Lôi Phong Hằng.

Quẻ Lôi Phong Hằng với biến sự Tĩnh Nạn Chi Dịch

Thôi bối đồ tượng thứ 28: Tĩnh Nạn Chi Dịch nhằm chỉ việc Chu Đệ khởi binh cướp ngôi vị hoàng đế của cháu trai là Kiến Văn Đế triều Minh.

Thôi bối đồ tượng thứ 28 Tĩnh nạn chi dịch
Thôi bối đồ tượng thứ 28 Tĩnh nạn chi dịch

Sấm viết:

Thảo đầu hỏa cước, Cung khuyết hôi phi

Gia trung hữu điểu, Giao ngoại hữu ni

Dịch nghĩa:

Đầu cỏ chân lửa, Cung điện tro bay

Trong nhà có chim, Ngoại thành có ni

Tụng viết:

Vũ mãn cao phi nhật

Tranh nghiên hữu lý hoa

Chân long du tứ hải

Phương ngoại thị ngô gia

Dịch nghĩa:

Đủ lông đủ cánh bay cao

Đua sắc có hoa mận

Chân long chơi bốn biển

Bên ngoài là nhà ta

Kim Thánh Thán bình

Tượng này dự đoán Yên Vương khởi binh, Lý Cảnh Long đón quân Yên vào kinh đô, trong cung lửa cháy lớn, Kiến Văn Đế xuống tóc tha hương.

Ý nghĩa của đồ hình Thôi Bối Đồ thứ 28

Trong tranh vẽ một thành lâu, cửa đóng kín mít, trên đỉnh lâu lửa bốc cháy ngùn ngụt như bị phóng hoả. Bức tranh này ám chỉ vào thời kỳ Kiến Văn Đế triều Minh, Yên Vương Chu Đệ khởi binh tấn công Nam Kinh, quân triều đình bại trận. Trước khi bỏ chạy, Kiến Văn Đế đã châm lửa thiêu cháy cung điện.

Ý nghĩa của bài thơ

Tượng này dự đoán Yên Vương Chu Đệ phát động Tĩnh Nạn Chi Dịch (chiến dịch dẹp nạn), lên ngôi hoàng đế triều Minh.

“Thảo đầu hoả cước” (đầu cỏ chân lửa) là một kiểu chơi chữ, “thảo đầu” ý nói phía trên chữ này có bộ “thảo” (艹), “chân hoả”, ý nói phía dưới chữ này là bộ “hỏa” (灬) chính là đại diện cho chữ “hoả” (火). Do đó “Đầu cỏ chân lửa” là ám chỉ chữ “Yên” (燕),

“Cung khuyết hôi phi” (Cung điện tro bay), câu này miêu tả cảnh tượng cung điện lửa cháy ngùn ngụt ám chỉ hoàng cung bốc cháy. Yên Vương Chu Đệ là con trai của Chu Nguyên Chương, là chú ruột của Kiên Văn Đế. Ông phát động “Tĩnh nạn chi dịch”, kỳ thực chính là người nhà mình đánh người nhà mình, điều này hoàn toàn phù hợp với lời sấm “trong nhà có chim”.

Chữ Yên (燕) còn có âm đọc là “yến”, có nghĩa là chim yến, nên chim ở đây là chỉ Chu Đệ).

Sau khi Chu Đệ công phá Nam Kinh, Kiến Văn Đế hoá trang thành tăng nhân cuống cuồng bỏ trốn, phù hợp với câu “ngoại thành có ni”.

“Vũ mãn cao phi nhật” (lông cánh đầy đủ đến ngày bay cao), ý nói Yên Vương Chu
Đệ dang rộng cánh bay, muốn lên ngôi hoàng đế. Trong quá trình công phá Nam Kinh, Lý Cảnh Long là người đóng vai trò quan trọng. “Lý hoa” (hoa mận) trong “tranh nghiên hữu lý hoa” (đua sắc có hoa mận), ý chỉ Lý Cảnh Long.

“Chân long chơi bốn biển, bên ngoài là nhà ta“, dự đoán sau khi Chu Đệ công chiếm Nam Kinh, Kiến Văn Đế đã trở thành tăng nhân chu du khắp bổn biển.

Ứng tượng quẻ Lôi Phong Hằng trong Kinh dịch

Tượng này tương ứng với quẻ Lôi Phong Hằng trong “Kinh Dịch”, quẻ trên là Chấn, đại diện cho sấm sét, quẻ dưới là Tốn, đại diện cho gió lớn, gió và sấm khuấy động, tạo nên một ý nghĩa mới cho mặt đất. Quẻ Chấn đại diện cho sự vật thuộc dương, quẻ Tốn đại diện cho sự vật thuộc âm, quẻ dương ở vị trí phía trên quẻ âm, tượng trưng cho quân vương chế ngự quân thần, thống trị vạn dân, quân tử nên giữ vững luân lý cương thường không bao giờ thay đổi này, bởi vậy quẻ này mới có tên là Lôi Phong Hằng.

“Thoán viết: Hằng, cửu dã. Cương thượng nhi nhu hạ, lôi phong tương dữ, Tốn nhi động, cương nhu giai ứng, hằng. Hằng hanh vô cữu, lợi trinh, cửu vu kỳ đạo dã. Thiên địa chi đạo hằng cửu nhi bất dĩ dã. Lợi hữu du vãng, chung tắc hữu thuỷ dã. Nhật nguyệt đắc thiên nhi năng cửu chiếu, từ thời biến hoá nhi năng cửu thành, thánh nhân cửu vu kỳ đạo nhi thiên hạ hoá thành. Quan kỳ sở hằng, nhi thiên địa vạn vật chi tình khả kiến hĩ“.

Lời thoán cho rằng quẻ Lôi Phong Hằng tượng trưng cho ý nghĩa trường cửu vĩnh hằng. Quẻ trên Chấn tượng trưng cho sấm tính tình mạnh mẽ, quẻ dưới Tốn đại diện cho gió tính tình ôn hoà, hai thứ kết hợp với nhau, sẽ mang lại ý nghĩa của quẻ Lôi Phong Hằng. Có thể khiêm tốn, thận trọng, dám nghĩ dám làm, chính là phẩm chất của quẻ Lôi Phong Hằng. Cương nhu hô ứng ở vị trí giữa quẻ là kết cấu của quẻ Lôi Phong Hằng.

“Hằng hanh vô cữu, lợi trinh”.

Lời quẻ có nghĩa là quân tử có thể giữ vững chính đạo, mãi mãi không bao giờ từ bỏ.

Lợi hữu du vãng

Có nghĩa là vạn vật phát triển tới tận cùng sẽ trở về theo đường cũ, tuần hoàn liên tục, biểu thị nguyên tắc vận hành mãi mãi không thay đổi của vạn vật trong vũ trụ.

Mặt trăng và mặt trời đều vận hành theo nguyên tắc này, bởi vậy có thể giữ mãi hình tượng sáng chói.

Bốn mùa xuân hạ thu đông cũng tuân theo nguyên tắc này, biến hoá liên tục, khiến đất nước thu được ích lợi.

Quân chủ có thể giữ vững đạo này, sẽ giáo hoá đươc vạn dân, thay đổi được tình hình xã hội.

Tóm lại, hiểu rõ đạo lý của quẻ Lôi Phong Hằng, có thể quan sát được bản chất vận hành của vạn vật.

“Tượng viết: Lôi phong, hằng. Quân từ dĩ lập bất dịch phương“.

Lời tượng cho rằng hình thức trên Chấn dưới Tốn của quẻ Lôi Phong Hằng đã thể hiện cảnh tượng “gió sấm gào thét, vạn vật đổi mới”, lý giải được ý nghĩa sâu xa bao hàm trong đó, có thể giữ vững chính đạo mãi mãi.

Quẻ này dự đoán sau khi Chu Nguyên Chương giết hại quần thần, phong cho con cháu mình làm vương hầu khắp nơi. Vì thế mà mang lại rất nhiều mối họa cho thế hệ sau này.

Trong đó mới họa lớn nhất chính là Chu Đệ đóng quân ở phía bắc. Sau khi Chu Nguyên Chương qua đời, ngôi vị được trao cho cháu trai Chu Doãn Văn, Chu Doãn Ván tính tình nhu nhược, yếu đuối, nghe theo lời quyền thần thực thi chính sách loại trừ phiên trấn, khiến con trai Chu Nguyên Chương là Chu Đệ bất bình, từ đó dựa vào sức mạnh như vũ bão. tấn công xuống phía nam cướp đoạt ngôi vị hoàng đế, đổi kinh thành là Bắc Kinh, từ đó mới khiến thiên hạ triều Minh ổn định trở lại, có được sự phát triển dài lâu.

“Sơ Lục: Tuấn hằng, trinh hung, vô du lợi“.

Có nghĩa là đào bới lâu ngày, tất sẽ gặp nguy hiểm. Bói được quẻ này không có gì tốt đẹp.

“Tượng viết: Tuấn hằng chi hung, thuỷ cầu thâm dã“.

Lời tượng cho rằng sở dĩ đào bới lâu ngày sẽ gặp tai họa là vì vùng đất càng sâu thì càng dễ lún sụt.

Hào này dự đoán Chu Nguyên Chương chọn dùng thủ đoạn tàn ác tiêu diệt những người chống đối mình, khi đã đạt được ngôi vị tối cao, ông không chỉ áp dụng hình phạt tàn khốc với tham quan ô lại, mà ngay cả các trung thần lương tướng thân tín nhất. Từng vào sinh ra tử với mình cũng không tha, khiến triều đình gần như trống rỗng. Hành động cực đoan này chắc chắn sẽ mang lại họa lớn.

“Cửu nhị: Hối vong“.

Ý nói hiện tại vẫn chưa hối hận.

“Tượng viết: Cửu nhị hối vong, năng cửu trung dã”.

Lời tượng cho rằng sở dĩ hào Cửu Nhị vẫn chưa hối hận là vì lúc này vẫn có thể giữ được đạo trung dung.

Hào này ám chỉ để củng cố quyền lực của mình, Chu Nguyên Chương đã lần lượt phong các con mình làm vương hầu các nơi, ông cho rằng đây là chính sách bảo vệ dân chúng, mới đầu thu được hiệu quả nhất định, cũng không có gì đáng lo ngại.

“Cửu tam: Bất hằng kỳ đức, hoặc thừa chi tu. trinh lận“.

Ý nói nếu không thể giữ vững chính đao mãi mãi sẽ phải chịu nhục nhã, rơi vào hoàn cảnh khó khăn.

“Tượng viết: Bất hằng kỹ đức. vô sở dung dã“.

Lời tượng cho rằng không thể duy trì đức tính tốt đẹp dài lâu. Chứng tỏ tính cách thay đổi thất thường, rất khó được người khác tin tưởng. đương nhiên sẽ không nhận được sự bao dung của người khác.

Ở đây ý nói sau khi Chu Nguyên Chương qua đời, do thái tử mất sớm nên ngôi vị được trao lại cho cháu trai Chu Doãn Văn. Chu Doãn Văn đã không kiên trì theo quốc sách xây dựng phiên quốc của Chu Nguyên Chương, mà bắt đầu tiến hành loại trừ, cuối cùng dẫn tới tai họa.

“Cửu tứ: Điền vô cầm

Ý nói đi săn mà không thu hoạch được gì.

“Tượng viết: Cửu phi kỳ vị an đắc cầm dã?“.

Lời tượng cho rằng ở vào vị trí không thích hợp với mình. làm sao có thể thu hoạch được.

Hào này ám chỉ chính sách trừ bỏ phiên quốc của Chu Doãn Văn đã không nhận được sự đồng tình của các phiên vương, ngược lại còn tự gây nên tai hoạ cho mình. Quân Vương làm việc không có chủ kiến. chỉ nghe theo ý kiến đại thần sẽ tốn công vô ích.

“Lục Ngũ: Hằng kỳ đức. Trinh, phụ nhân cát. phu tử hung”.

Có nghĩa là kiên trì giữ vững phẩm hạnh, nếu là nữ giới thì cát, là nam giới lại hung.

“Tượng viết: Phụ nhân trinh cát tòng nhất chung dã. Phu tử chế nghĩa, tòng phụ hung dã“.

Lời tượng cho rằng nếu là nữ giới bói được quẻ này thì sẽ may mắn, bởi lẽ người phụ nữ vốn cần giữ vững phẩm hạnh, điều này phù hợp với đạo lý phong kiến trọng nam khinh nữ, còn nếu nam giới bị phụ nữ kiểm soát, sẽ không làm nổi trò trống gì.

Hào này dự đoán Chu Doãn Văn tính tình yếu đuối, nhu nhược như phụ nữ, không biết phải trị quốc như thế nào, không thể phát huy sức mạnh mà một đế vương cần có, mọi việc nhất nhất nghe theo quyền thần. Địa vị hoàng đế sớm muộn gì cũng rơi vào tay người túc trí đa mưu, rộng rãi quyết đoán là Chu Đệ.

“Thượng lục: Chấn hằng, hung“.

Ý nói liên tục thay đổi sẽ khiến con người không thể chịu nổi, tai họa sẽ ập xuống.

“Tượng viết: Chấn hằng tại thượng, đại vô công dã“.

Lời tượng cho rằng, là quân chủ đã không thể giữ được kỷ cương phép tắc, chính lệnh lại hay đổi thất thường, ắt sẽ không có được kết quả tốt đẹp.

Hào này dự đoán Chu Doãn Văn tự ý thay đổi phép tắc do Chu Nguyên Chương lập nên, bởi vậy đã chuốc lấy tai họa vào mình, hành động cướp đoạt ngôi vị của Chu Đệ thành công, chính sách trừ bỏ phiên quốc cũng chấm dứt từ đây.

Lịch sử ẩn phía sau tượng

Sau khi lên ngôi, Chu Nguyên Chương sát hại một loạt công thần, theo ông thì hành động này chính là “nhổ gai“ giúp người kế vị sau này, tức là loại bỏ mọi chướng ngại cản trở sự thống tnj của quân vương.

Có thể nói, Chu Nguyên Chương là một người hành sự cực đoan, ông cũng đã cực đoan hóa quyền lực trong tay. Ngay cả những công thần từng kề vai sát cánh, vào sinh ra tử với mình. ông cũng coi là người dưng. Theo ông, nếu không phải họ hàng của mình. đều sẽ gây uy hiếp cho ngôi vị của bản thân.

Người bạn thuở nhỏ của Chu Nguyên Chương là Dương Hoà biết rõ Chu Nguyên Chương đố kỵ công thần nên đã kiếm cớ cáo lão về quê sinh sống, đoạn tuyệt quốc sự, cuối cùng cũng coi như “cả đời công cốc“.

Theo ghi chép trong lịch sử, ngoài Dương Hoà. còn có 5 người nữa là Từ Đạt, Thường Ngộ Xuân, Lý Văn Trung, Trịnh Dũ, Mộc Anh còn giữ được danh tiếng. được phong vương phong tước sau khi chết. còn những người khác đều chết thảm dưới tay Chu Nguyên Chương.

Ngoài sát hại hàng loạt công thần. Chu Nguyên Chương còn lần lượt phong vương cho con cháu mình. 24 con trai và một cháu họ của ông đều được phong làm thân vương. Các vương sau khi được phong đều xây dựng vương phủ tại địa bàn mình cai quản, hình thành nên các tiểu vương quốc. Theo Chu Nguyên Chương, cách làm này là sách lược “vệ quốc” và “an dân”.

Thực tế đã cho thấy rõ mục đích của hành động này chính là Chu Nguyên Chương muốn củng cố sức mạnh của hoàng thất, để triều Minh có thể duy trì đời đời kiếp kiếp. Tuy nhiên, hành vi sát hại người ngoại tộc để tăng cường sức mạnh gia tộc này về sau lại sẽ gây nên biến loạn trong chính nội bộ gia tộc của ông.

Khi Chu Nguyên Chương tại vị, từng lập Chu Biểu làm thái tử, nhưng sau đó Chu Biểu đã qua đời vì bệnh nặng. Trong số 24 người con. Chu Nguyên Chương thích nhất Chu Đệ. Sau khi tàn sát hàng loạt công thần, ông đã giao mọi việc ở vùng biên giới cho các con trai. Trong số đó người mưu trí, quả cảm nhất chính là Yên Vương Chu Đệ.

Chu Nguyên Chương từng nói rằng Chu Đệ là người con giống ông nhất, qua ngôn từ của ông đã bộc lộ được tình yêu thương sâu sắc ông dành cho Chu Đệ. Nhưng khi đó thái tử Chu Biểu đã có 5 con trai, con trai trưởng chết yểu, con trai thứ là Chu Doãn Văn đã lớn khôn. Bởi vậy, Chu Nguyên Chương đã lập Chu Doãn Văn làm hoàng thái tôn.

Tuy Chu Nguyên Chương làm vậy, song trong lòng thực sự không thích Chu Doãn Văn lắm. Bởi lẽ Chu Doãn Văn tính tình nhu nhược, yếu đuối, ông sợ Doãn Văn không thể đảm đương nổi trọng trách. Song triều thần Lưu Tam Ngô lúc đó năm lần bảy lượt khẩn cầu, nên ông đành chấp thuận.

Sau khi Chu Nguyên Chương qua đời, Chu Doãn Văn lên ngôi, chính là Kiến Văn Đế trong lịch sử. Vào thời điểm này, thế lực của chư vương các nơi ngày càng mạnh mẽ, đặc biệt là Yên Vương Chu Đệ, là người có thực lực hùng hậu nhất trong số chư vương, lại đóng quân ở kinh đô cũ của triều Nguyên là Yên Kinh, bởi vậy dã tâm cũng lớn hơn ai hết.

Sự bành trướng ngày càng gia tăng của thế lực phiên vương tất nhiên sẽ gây nên uy hiếp đối với chính quyền trung ương. Vấn đề nan giải này đã hiển hiện ngay trước mắt Kiến Văn Đế. Kỳ thực, ngay từ lúc Chu Nguyên Chương phong hầu cho một loạt con cháu, một người tên là Diệp Bá Thân đã từng khuyên rằng:

Thế lực phiên vương quá mạnh, nhiều năm sau sẽ khó mà kiểm soát, lúc đó thực thi chính sách loại trừ phiên quốc, e rằng sẽ gây nên chiến loạn. Nhưng Chu Nguyên Chương đã không nghe theo lời khuyên này, còn xử tử Diệp Bá Thân.

Tuy Kiến Văn Đế tính tình có phần nhu nhược, song vẫn thấu tỏ một số vấn đề. Khi còn là hoàng thái tôn, Kiến Văn Đế từng đem thắc mắc của mình về việc phong vương hỏi Chu Nguyên Chương:

“Các hoàng thúc nắm binh quyền độc lập, nếu xảy ra chiến loạn thì đối phó thế nào đây?”

Sau khi đăng cơ, Kiến Văn Đế đương nhiên vẫn lo lắng với câu hỏi này. Lúc đó, Hộ bộ thị lang Trác Kinh dâng lên một bức mật tấu viết rằng:

“Yên Vương mưu trí hơn người. rất giống tiên đế, hiện tại trấn giữ Yên Kinh, thế lực rất mạnh, một khi phát động binh biến thì khó mà chống đỡ nổi, bởi vậy nên chuyển ông ta tới Nam Xương”.

Tuy Kiến Văn Đế đồng tình với quan điểm này, song lại ngây thơ cho rằng:

“Trẫm và Yên Vương có quan hệ máu mủ ruột thị, sẽ không có chuyện xảy ra binh biến”.

Trác Kinh lập tức quỳ xuống nhắc nhở Kiến Văn Đế:

“Lẽ nào bệ hạ chưa từng nghe nói tới chuyện cha con triều Tuỳ giết hại lẫn nhau? Huống hồ là quan hệ chú cháu”.

Kiến Văn Đế Vội lắc đầu xua tay nói:

“Ngươi đừng nói nữa, để trẫm suy nghĩ thêm”.

Nào ngờ câu nói này đã truyền đi nhanh chóng, đâu đâu cũng bàn tán chuyện Kiến Văn Đế loại trừ phiên quốc.

Tin tức này mau chóng tới tai Yên Vương, bề ngoài ông vờ bị bệnh, song lại ngấm ngầm cùng với tâm phúc lên sách lược đối phó.

Lúc đó có một vị tăng nhân thường xuyên qua lại phủ Chu Đệ tên là Đạo Diễn. Ông ta tên thật là Diêu Quảng Hiếu, tự xưng là từng theo dị nhân học đạo, có thể dự đoán tương lai. Ngay từ lúc Chu Nguyên Chương phong một loạt vương hầu, đã tuyển chọn rất nhiều tăng nhân nổi tiếng về dạy các hoàng tử.

Đạo Diễn chính là vị sư phụ được phái tới phủ Yên Vương. Đạo Diễn vừa nhìn thấy Chu Đệ đã phán rằng ông có tướng thiên tử, sau này sẽ trở thành thiên tử. Nghe vậy, Chu Đệ trong lòng vô cùng vui sướng, sau đó đã bái Đạo Diễn làm sư phụ, mọi việc đều bàn bạc với Đạo Diễn.

Chu Đệ rất không hài lòng về việc Kiến Văn Đế trừ bỏ phiên quốc. Năm xưa khi Chu Nguyên Chương lập Chu Doãn Văn làm người kế vị, ông đã không phục. Hiện tại Kiến Văn Đế lại trực tiếp chĩa mũi nhọn vào ông nên đương nhiên ông không chấp nhận. Hơn nữa Đạo Diễn đã đoán rằng ông sẽ làm thiên tử, bởi vậy sao ông có thể ngồi yên?

Bởi vậy, Chu Đệ và Đạo Diễn đã bàn mưu chiếm đoạt ngôi vị. Trước hết, Chu Đệ bắt tay vào củng cố thực lực, Đạo Diễn đề xuất chế tạo binh khí. Để tránh thông tin lộ ra ngoài, Chu Đệ phái người bí mật đào hầm ở hậu hoa viên trong phủ Yên Vương, xây dựng mật thất.

Nhằm che mắt thiên hạ, Chu Đệ còn cho nuôi rất nhiều gà, vịt, ngan, ngỗng ở bên ngoài, hàng ngày tiếng gia cầm kêu át hết tiếng rèn vũ khí ở bên trong mật thất, có thể nói đây là thời kỳ gian khổ vất và của Chu Đệ.

Tuy nhiên tin tức vẫn bị lộ ra ngoài. Khắp nơi loan tin Yên Vương Chu Đệ đang ngày đêm rèn binh khí chuẩn bị mưu phản.

Chu Đệ đã giả điên để tránh sự truy bắt của triều đình. Kiến Văn Đế lấy cớ điều tra thực hư bệnh điên của Yên Vương, định phái Trương Bính và Tạ Quý tới phủ Yên Vương để bắt Chu Đệ. Nào ngờ, Chu Đệ được tay chân thân tín là Trương Tín báo cho biết trước nên đã hành động trước, giết chết Trương Bính và Tạ Quý, đồng thời kiếm cớ “diệt trừ gian thần” khởi binh tấn công xuống phía nam. Lịch sử gọi đây là sự kiện “Tĩnh nạn chi dịch”.

Trong thời kỳ Chu Nguyên Chương tại vị, để tránh quyền thần lộng hành, đã quy định phiên vương có quyền “khởi binh thanh quân trắc” (khởi binh làm trong sạch triều đình). Yên Vương Chu Đệ đã dựa vào luật pháp này để hành động, cho rằng Tề Thái, Hoàng Tử Trừng (đại thần thân tín của Kiến Văn Đế) trong triều là gian thần cần phải tiêu diệt đồng thời cho rằng việc xuất quân lần này mang nghĩa “tĩnh nạn” (dẹp nạn). Như vậy, Yên Vương Chu Đệ đã tìm ra lý do chính đáng cho việc cướp đoạt ngôi vị của mình.

Sau khi Yên Vương khởi binh, Kiến Văn Đế dốc sức ứng phó. Tuy nhiên, do Chu Nguyên Chương từng sát hại hàng loạt công thần nên lúc này trong triều không còn tướng tài.

Trong tình cảnh bất đắc dĩ, Kiến Văn Đế đành phải dùng tới đại tướng quân tuổi cao là Cảnh Bính Văn, dẫn 30 vạn quân sĩ chống lại Yên Vương. Ở tuổi gần đất xa trời, Cảnh Bính Văn đương nhiên không phải là đối thủ của Yên Vương dũng mãnh sung sức. Rất nhanh sau đó, quân của Cảnh Bính Văn đã bại trận đầu hàng.

Nghe theo lời khuyên của Hoàng Tử Trừng, con trai của Tào quốc công Lý Văn Trung là Lý Cảnh Long được bổ nhiệm làm đại tướng quân, tiếp tục dẫn quân đi ứng chiến với quân Yên Vương. Tuy nhiên Lý Cảnh Long là công tử bột, chỉ sau vài hiệp đã trở thành tướng bại trận, cuống cuồng bỏ chạy tới Đức Châu.

Thấy chủ soái chạy trốn, binh lính cũng không còn lòng dạ ứng chiến. Tuy nhiên trước chiến thắng liên tiếp, Yên Vương Chu Đệ đã phạm sai lầm chủ quan khinh địch. Trong cuộc chiến ác liệt giữa hai bên tại Đông Xương, quân Yên đã đại bại. tướng lĩnh thân tín của Chu Đệ là Trương Ngọc tử trận, bản thân ông cũng bị bao vây bốn phía. Sau này nhờ tinh thần chiến đấu quyết tử của tướng lĩnh Chu Năng mà quân của Chu Đệ mới đột phá được vòng vây.

Trong lúc tuyệt vọng thì Chu Đệ nhận được thông tin quan trọng từ phía một thái giám bất mãn với Kiến Văn Đế, đó là “Nam Kinh hiện đang trống rỗng, rất dễ chiếm”. Chu Đệ liền mau chóng phát binh tấn công Nam Kinh. Kết quả là trong lúc Kiến Văn Đế lơ là cảnh giác, Chu Đệ đã tấn công và giành được thắng lợi.

Vào thời điểm then chốt này, đại tướng quân từng kháng cự lại Chu Đệ là Lý Cảnh Long đã mở cửa thành đón Chu Đệ. Đến lúc này, “Tĩnh nạn chi dịch” kéo dài suốt bốn năm ròng mới chấm dứt hoàn toàn với thắng lợi của Yên Vương Chu Đệ.

Sau khi Yên Vương vào thành, chỉ thấy trong cung lửa cháy rừng rực, không thấy Kiến Văn Đế đâu. Trong lịch sử, có rất nhiều giả thiết khác nhau liên quan tới sự kiện này, có người nói Kiến Văn Đế đã tự thiêu chết trong cung, có người nói ông cải trang thành tăng nhân chạy trốn, từ đó du ngoạn khắp thiên hạ. Rốt cuộc vận mệnh của Kiên Văn Đế ra sao, tới nay vẫn chưa được làm sáng tỏ. Rất nhiều người thiên về cách lý giải thứ hai.

Theo ghi chép trong tư liệu lịch sử, khi Yên Vương Chu Đệ tấn công thành Nam Kinh, Kiến Văn Đế chiến bại đã có ý định tự sát. nhưng thái giám Vương Việt đã ngăn lại.

Nghe nói trước khi Chu Nguyên Chương qua đời, đã từng để tại một chiếc hòm, giao cho thái giám cất giữ, dặn rằng:

Khi con cháu lâm nạn thì có thể mở hòm ra, bên trong sẽ có cách ứng phó.

Kiến Văn Đế lập tức sai người mang hòm mở ra, thì thấy bên trong có ba độ điệp (thẻ thông hành của nhà sư) Ứng Văn, Ứng Năng, Ứng Hiền, còn chuẩn bị sẵn áo cà sa, mũ sư, giày sư, dao cạo, 10 đĩnh bạc trắng và một tờ giấy màu đỏ, bên trên viết rằng:

“Ứng Văn chạy trốn theo Quỷ môn. người khác chạy trốn theo Thuỷ quan, vào lúc chập tối gặp nhau ở phòng phía tây ở Thần Lạc Quán”.

Kiến Văn để thở dài nói: “Ý trời đã như vậy, thôi cứ làm theo đi”.

Comment ngay nếu có gì thắc mắc về quẻ Lôi Phong Hằng để nhận giải đáp trực tiếp từ Ad nhé !!!

(Series bài viết Hướng dẫn tự học Kinh Dịch Tại chuyên mục Giáo Dục dành cho Newbie được viết bởi Phú Hà

Để trở về trang chủ mời quý khách Click Tại Đây)

33 BÌNH LUẬN

    • Không rõ ý bạn lắm, mình không xem quẻ cho cá nhân nào ạ.
      Tin thần chung là cùng mọi người phân tích chiêm nghiệm về quẻ ở mức độ tổng quát thôi bạn à.
      Cảm ơn bạn đã quan tâm.

  1. Đặc trưng của quẻ Hằng là răn con người ta về sự chính bền, kiên trì thành công, cơ mà toàn bộ lục hào chả một hào nào chất, thế thì bền ở đâu ạ, mình hỏi ngu tý, hị hị

  2. Mình có thắc mắc là trong quẻ lôi phong hằng của bài này, phần đầu bình về quẻ, hào 2 nói là hối vong, bình giảng là hối hận tiêu vong, tức là những hối tiếc đã trôi qua, đi vào quá khứ, cơ mà trong phần 2 của bài, phần thôi bối đồ, cũng hào 2 lại luận là hối tiếc chưa đến, thế cái nào đúng cái nào sai ạ, híc híc

  3. Có đọc phần thôi bối đồ mới thầy thằng cha chu nguyên chương dã man, đói rách đi ăn xin mà khi lên ngôi đế, ai ngáng đường phập hết. phần trình bày quẻ lôi phong hằng của ad có nhiều mới lạ, không theo lối mòn là theo 1 tác giả hoặc một ai đó trình bày từ đầu đến cuối. hi

  4. “Hằng kỳ đức, Trinh, Phụ nhân cát, Phu tử hung”
    Lời hào 5 quẻ lôi phong hằng nói con gái xem bói thì tốt, thảo nào bọn con gái đi xem bói đông thế, hi hi
    Mình học kinh dịch nhưng chưa bói bao giờ 🙂

  5. Quẻ lôi phong hằng, thượng chấn hạ tốn, chấn là trai trưởng, tốn là nữ trưởng, tóm lại là tượng trai trên gái dưới đây mà, em fun tý, ka ka 😀

  6. Phàm bói được quẻ lôi phong hằng thì cứ xác định là thật thật thà thà, cẩn thận, giữ vững vị trí thôi, non nước gì đâu, quẻ này cưới xin bói gặp thì tốt, cát lợi

  7. Thực ra nói quẻ tốt hay xấu cũng tùy việc mình bói thôi, ví dụ mình có đứa bạn bị ốm, ông già nó gieo được quẻ này, nằm liệt giường 3 năm, ra là quẻ Lôi Phong Hằng chủ về trường cửu, bền mãi, thế là bệnh tật cũng bền mãi, mãi chưa dứt, giờ thì nó đi lại được rồi, nhưng vẫn đuối lắm

  8. @ Minh HD: Ý kiến của bác rất đúng, xem quẻ phải tùy theo việc, tinh hoa của dịch học là chữ Thời mà. Bói được quẻ Lôi phong hằng, bói việc tốt thì được lâu bền, bói việc xấu thì cái xấu bám mãi không tha.

  9. Phần luận quẻ lôi phong hằng này trích trong sách của thầy Lê Anh Minh mà, hôm trước mình cũng có đọc 1 quyển về dịch của cụ Nguyễn Duy Hinh mà thấy vớ vẩn quá, hình như quyển dịch học cổ truyền thì phải.

  10. Quẻ Lôi phong hằng này có một hàm ý rất sâu sắc là cái mà vĩnh hằng trường cửu, tồn tại mãi với thời gian… là chỉ tình cảm trong lòng của mỗi người, chỉ có tình cảm chân thành mới tồn tại mãi mãi.

  11. Thôi bối đồ Tĩnh nạn chi dịch ứng tượng quẻ lôi phong hằng có sách ghi là tượng 28, có sách lại ghi là tượng 18 là sao hả Ad, ghi chuẩn thế luôn, thứ tự tượng quẻ cũng khác nhau luôn, không hiểu thế nào?

    • Vua chúa bên Tầu họ trộn lại thứ tự các đại tượng vì sợ thiên hạ biết trước được thịnh suy triều đại của họ để làm điều bất lợi. Người sau này thường căn cứ trên bản Thôi Bối Đồ mà cụ Kim Thánh Thán viết lời phê, tục gọi là Kim Phê Bản ạ 🙂

  12. Mình bổ xung thêm ý kiến là Quẻ Lôi Phong Hằng có tượng chấn trên tốn dưới, tượng trưng tư tưởng phong kiến ” chồng chúa vợ tôi” nhưng cũng đồng nghĩa bởi quẻ thượng chấn cũng là ngoại chấn, nên con trai phải đi ra ngoài kiếm tiền nuôi gia đình, quẻ hạ tốn cũng là nội tốn, chủ người phụ nữ ở nhà làm nội tướng, chăm lo gia đình, hi hi, cảm ơn bạn đã tổng hợp lại phần luận quẻ lôi phong hằng này rất là hay, làm mình có thêm nhiều ý tưởng mới mẻ. Trân trọng cảm ơn bạn

  13. Quẻ Lôi phong hằng bản chất của nó là Cương thượng nhi nhu hạ, thượng quái là quẻ khôn biến hào sơ mà thành, hạ quái là quẻ càn biến hào sơ mà thành, tượng gió mạnh sấm to, nên còn gọi là Lôi phong tương dự. vài lời đóng góp 🙂

  14. Đóng góp thêm ý kiến nữa về quẻ Hằng là quẻ này có 3 hào dương ứng hợp với 3 hào âm, nên còn gọi là Cương nhu giai ứng, cũng bởi vậy nên quẻ hằng lợi về trường cửu, chính bền, có đúng không ad nhỉ?

  15. Mọi người có nhiều ý kiến mới mẻ về quẻ lôi phong hằng quá, cảm ơn mọi người, cảm ơn Ad đã có một bài viết rất chất về quẻ hằng. 🙂

BÌNH LUẬN

Please enter your comment!
Please enter your name here