Ý nghĩa quẻ Khảm, Bát Thuần Khảm Vi Thủy – Hướng dẫn học Kinh Dịch

13
725

Quẻ Khảm có thượng quái và hạ quái đều là quẻ Khảm, Khảm là hiểm là hãm, biểu tượng cho sự nguy hiểm, rắc rối. Thượng quái và hạ quái đều là Quẻ Khảm, biểu tượng sự việc rất rắc rối và nguy hiểm,” sâu không thể dò”.

Nước nằm ở cả trên và dưới có nghĩa là nước rất sâu, không thể thăm dò được. Nước mênh mông, không ngừng chảy cuốn theo tất cả…

Nguy hiểm đang chờ phải thức tâm

Lòng thành bao khó cũng hanh thông

Vun trồng công đức tai qua khỏi

Trời phật hộ trì kẻ có công

Có thể bạn cần tham khảo thêm Quẻ Bát Thuần Ly

Hoặc tham khảo thêm   Quẻ Sơn Hỏa Bí

Giải nghĩa quẻ Khảm – Thuần Khảm

Quẻ Khảm vi thủy ( Bát thuần Khảm ), quẻ thượng Khảm là hãm, suy rộng ra là cạm bẫy. Quẻ hạ Khảm là heo rừng là lợn lòi, suy rộng ra là tượng mãnh thú. Vậy quẻ Khảm có tượng đặt bẫy săn thú.

Theo Từ Nguyên, Khảm là chỗ trũng trên mặt đất, còn theo Từ Hải thì Khảm là cái hố. Thời cổ phần lớn dùng cái hố để tích nước ăn uống. Hố nước thường rất nguy hiểm , nên Khảm là nước, tượng trưng sự nguy hiểm. Cổ nhân thường dùng cái hố để chăng bẫy săn thú, săn thú cũng là một công việc nguy hiểm vậy.

Quái từ quẻ Khảm:

Tập Khảm. Hữu phu. Duy tâm hanh. Hành hữu thượng. (習 坎 . 有 孚 . 維 心 亨 . 行 有 尚 ), ()

Dịch nghĩa: Quẻ Khảm là hình tượng vực thẳm xoáy nước cuồn cuộn không ngớt, nguy hiểm muôn trùng, (trong giai đoạn này) cần phải có lòng thành tín, nếu biết trông cậy vào tâm hồn (kiên định) của mình thì mọi sự hanh thông, tiến hành việc gì cũng được người giúp đỡ.

Giải thích: Wilhelm bình giảng: Quẻ Thuần Khảm là do quẻ Khảm trùng quái mà thành. Đó là một trong tám quẻ trùng quái (hai quẻ giống nhau chồng lên mà thành. Quẻ Khảm có nghĩa là lao sâu vào. Một hào Dương lao sâu vào giữa hai hào Âm, được hai hào Âm bao bọc như nước trong thung lũng. Quẻ Khảm cũng là đứa con trai nằm giữa. Trong thế giới nhân sự quẻ Khảm tượng trưng cho trái tim, cho tâm hồn gói trong thân xác, nguyên lý ánh sáng bọc chung quanh là bóng tối, nguyên lý đó chính là lý tính.

Như vậy quẻ này tượng trưng cho một hoàn cảnh khách quan mà chúng ta phải thích ứng, không phải là một thái độ chủ quan.

Bản Bạch Thư Chu Dịch (Mã Vương Đôi 1973) chép khác hẳn ba chữ trong câu trên: “Tập cám hữu phục, huề, tâm, hanh, hành hữu thượng “. Chữ “Cám” 贛 đọc theo âm Bắc Kinh hiện đại là /gan/, nhưng âm Hán Việt có thể đọc là “cống”/gòng/ vì “cống” 貢 thường dùng thông với“贛 . Chữ 雟 âm Bắc Kinh hiện đại là /xi/ nhưng trong âm cổ đọc là |gui/ và /sui/ (âm Hán Việt là “huề” và ““tủy”). Thật ra chữ ” Cám” này là giả tá cận âm của chữ “Khảm” 坎 nếu truy theo vận bộ và cách phiên thiết cổ.

Đường vận, Tập vận, Vận hội, Chính vận đều phiên thiết 坎 là “Khảm” (khổ cảm thiết ). Còn chữ 贛 (âm Hán Việt hiện đại) theo các sách vận thư trên phiên là “cám” (cổ ám thiết ). Vậy là hai chữ cận âm dùng thế cho nhau.

Về nghĩa, Mã Dung giảng “Khảm tức là hãm (hố sâu) vậy” (khảm, hãm dã ). Thuyết văn giải tự cũng giảng “Cám là hố sâu” (cám, hầm dã ). Vậy là nghĩa cũng thông. Còn chữ “huề” 雟 (Hán âm /guì/) là tiếng giả tá cận âm của “duy” 維 (Hán âm /wéi/), “phục” 復  (Hán âm /fú/) là tiếng giả tá cận âm của “phu” 孚 (Hán âm /fú/) cũng như trường hợp “Cám” 贛 dùng thay cho “Khảm” 坎 . Như vậy chỉ có sai biệt về cách viết mà thôi.

“Tập” 習 theo Lưu Biểu chú giảng là “nước chảy không ngừng gọi là tập” (thủy lưu hành bất hưu, cố viết tập). Như vậy “Tập Khảm”  là “trong hố sâu nước chảy cuồn cuộn” chứ không phải như Wilhelm hiểu là “Hố thẳm lập lại” thì không có nghĩa gì cả.

Trương Thiện Văn và Hoàng Thọ Kỳ giảng “Tập khảm” là “nguy hiểm muôn trùng” (trùng trùng hiểm hãm ). “Duy tâm” 維 心 có nghĩa là (tài năng) nằm tại nhân tâm” (tài năng duy hệ nhân tâm ). Trương Thiện Văn và Hoàng Thọ Kỳ dịch câu trên là: “Chỉ cần trong lòng có thành tín, là có thể làm cho nội tâm hanh thông, nỗ lực tiến về phía trước chắc chắn được người đời sùng bái” (chỉ yếu hung hoài thành tín, tựu năng sử nội tâm hanh thông, nỗ lực tiến hành tất bị sùng thượng ).

Như vậy theo hai ông “hành hữu thượng” là “hành động sẽ được sùng thượng”. Từ Tử Hùng và Cao Hanh vẫn cho rằng “phu” 孚 là chỉ bọn nô lệ trong thời Tây Chu nên dịch câu trên thành: “Bắt được bọn nô lệ, vỗ về phủ dụ chúng nó, mọi sự tốt đẹp. Trên đường đi có được sự giúp đỡ” (Trảo hoạch phu lỗ, khuyến ủy an phủ tha môn, thông thái. Đồ trung tương đắc đáo bang trợ).

Đại Tượng quẻ Khảm – Thuần Khảm

Quẻ Khảm có tượng là hồ nước sâu - Tượng trưng sự nguy hiểm
Quẻ Khảm có tượng là hồ nước sâu – Tượng trưng sự nguy hiểm

Đại tượng quẻ Khảm viết:

Thủy tấn chí. Tập Khảm. Quân tử dĩ thường đức hạnh. Tập giáo sự. (象 曰 : 水 洊 至 . 習 坎 . 君 子 以 常 德 行 . 習 教 事)

Dịch nghĩa : Nước dâng cuồn cuộn không ngừng là hình tượng quẻ Khảm, quân tử xem tượng quẻ này để biết luôn luôn rèn luyện đức hạnh, luôn luôn cần mẫn thi hành việc giáo hóa.

Giải thích: “Tấn”洊 (âm Bắc Kinh hiện đại đọc là /jiàn/) theo Nhĩ Nhã Thích ngôn có nghĩa là “lại một lần nữa” (tấn, tái dã ). Lý Đỉnh Tộ dẫn Lục Tích cũng giảng như vậy. Nước chảy không ngừng (thủy trường lưu nhi bất trệ ) chính là hình tượng quẻ Khảm.

“Giáo sự” 教 事  là công việc giáo hóa. Trương Thiện Văn giảng: Hai quẻ Khảm trên và dưới đều tượng trưng cho nước, nói nước dồn dập chảy tới, chính là tượng trưng cho sự trùng hùng hiểm hãm, sau đó nói rõ việc người quân tử xem tượng này, cần hiểu rõ lý lẽ: việc giữ gìn đức hạnh phải như dòng nước cuồn cuộn chảy không ngừng, tiến hành công việc giáo hóa phải như hai quẻ Khảm nối tiếp nhau, luôn luôn được rèn luyện thuần thục.

Quách Dương trích Lục Tích giảng: Tấn tức là lại lần nữa, lập tức là trùng lặp. Nước lại dâng lên cuồn cuộn, ngày đêm không ngừng. Trùng trùng theo nhau lên xuống là đạo thường, cũng giống như tập. Nên quân tử xem đó, thường xuyên thực hành việc giáo hóa, như nước không bao giờ lặp lại. (tấn tái dã, tập trùng dã. Thủy tái chí nhi ích thông lưu, bất xạ trú dạ. Trùng trùng tập tương tùy dĩ vi thường, hữu tự vu tập. Cố quân tử tượng chi, dĩ thường tập giáo sự, như thủy bất tập dã). “Thường” 常 trong “Thường đức hạnh” dùng như động từ, có nghĩa là “luôn luôn giữ gìn” (hằng cửu bảo trì ). “Tập” cũng dùng như động từ, nghĩa là “thực tập thuần thục” (thục tập).

Hào Sơ Lục – Hào 1 quẻ Khảm (thuần Khảm)

Quẻ Thuần Khảm - Hào Sơ Lục
Quẻ Thuần Khảm – Hào Sơ Lục

Lời hào Sơ Lục quẻ Khảm viết:

Sơ Lục. Tập Khảm. Nhập vu Khảm Đạm. Hung. (初 六 . 習 坎 . 入 于 坎  窟 . 凶 )

Dịch nghĩa: Hào 1, Âm: Nước chảy xiết không ngừng, trong xoáy nước lại rơi vào giữa vực sâu, chuyện hung hiểm.

Thuyết văn giải tự giải thích: “Đạm” 窞 (âm Bắc Kinh hiện đại học là /dàn/) có nghĩa là “bên trong hố sâu có thêm một hố sâu nữa” (khảm trung cánh hữu khảm).

Lý Đỉnh Tộ dẫn Can Bảo giảng “Đạm” là “chỗ thâm sâu của Khảm vậy” (khảm chi thâm giả dã ). Trương Thiện Văn và Hoàng Thọ Kỳ giảng “Đạm” là “hố sâu” (thâm khanh ). Lý Kính Trì giảng: Chữ “Đạm” tượng hình người đang ở giữa hai hố sâu, trên là chữ Huyệt dưới là chữ Cữu, Huyệt hay Cữu gì cũng là hố sâu cả (tượng nhân lưỡng khảm chi trung, thượng huyệt hạ cữu, huyệt cữu đô thị khảm khanh).

Trương Lập Văn dịch câu trên như sau: Trong nơi hố sâu lại có thêm một hố sâu khác, người rơi xuống hố, chắc chắn hung hiểm. (hãm tịnh trung hựu hữu hãm tịnh, nhân trụy nhập hãm tịnh, tắc hung ) Tất cả đều thể hiện ý nguy hiểm trùng trùng nên Wilhehm dịch “Tập Khảm” là “sự lặp lại hố thẳm ” nghe rất có mùi vị triết học Nietzsche.

Wilhelm giảng rằng hào Sơ Lục quẻ Khảm thể hiện một người đã quá quen thuộc với chuyện xấu đến mức không còn cảnh giác gì nữa, chính đạo lạc lối, sự xấu xa đã lọt vào trong bản chất, khó lòng vãn hồi.

Hào Cửu Nhị – Hào 2 quẻ Khảm (thuần Khảm)

Quẻ Khảm - Hào Cửu Nhị
Quẻ Khảm – Hào Cửu Nhị

Lời hào Cửu Nhị quẻ Khảm viết:

Cửu nhị. Khảm hữu hiểm. Cầu tiểu đắc. (坎 有 險 . 求 小 得)

Dịch nghĩa: Hào Cửu Nhị, Dương: Trong hố sâu có nguy hiểm, chỉ nên cầu mong thành công trong chuyện nhỏ mà thôi.

Giải thích: Trương Lập Văn dịch: Rơi vào hố sâu gặp nguy hiểm, chỉ mong chuyện nhỏ” (Trụy nhập hãm tịnh. hữu nguy hiểm, chỉ cầu tiểu đắc. Trương Thiện Văn và Hoàng Thọ Kỳ dịch: Bị nạn rơi vào hố sâu, theo chỗ nhỏ tìm cách thoát hiểm chắc chắn có thể được” (tại hãm huyệt trung khốn ly hiểm nạn. tòng tiểu xứ mưu cầu thoát hiểm tất hữu  sở đắc ).

Trương Thiện Văn dẫn Trần Nhân Tích đời Minh viết: Mưu cầu việc nhỏ, không mưu cầu việc lớn, có nghĩa là không bắt đầu ngay từ việc lớn. Dòng nước ri rỉ không ngừng, sẽ chảy thành sông, như đào đất tìm mạch nước, không cần nước tràn đầy ngay, nhưng rồi sau sẽ có dòng nước”.

Wilhelm cũng giảng tương tự: Lúc đang bị nguy hiểm không nên tìm cách thoát ra ngay lập tức bất chấp hoàn cảnh thế nào, mà nên bình tĩnh cân nhắc lợi hại, thời thế, hoàn cảnh, được mất và nên bằng lòng với việc gỡ rối từ từ.

Hào Lục Tam – Hào 3 quẻ Khảm (thuần Khảm)

Quẻ Thuần Khảm - Hào Lục Tam
Quẻ Thuần Khảm – Hào Lục Tam

Lời hào Lục Tam quẻ Khảm viết:

Lục tam. Lai chi Khảm Khảm. Hiểm thả chẩm. Nhập vu Khảm lạm. Vật dụng. (來 之 坎 坎 . 險 且 枕 . 入 于 坎 窟 . 勿 用)

Dịch nghĩa: Hào Lục Tam, Âm: Đến hay đi gì cũng nằm trong hố sâu, tiếm lên thì gặp nguy hiểm, lùi lại cũng không yên, rơi vào nơi đầm rồng hang hổ, không nên thi thố tài năng.

Giải thích: “Lai chi” 來 之 tức là “lai chí” 來 至 . Trong câu này chỉ có chữ “Chẩm” 枕 là khó hiểu nhất vì có quá nhiều cách lý giải khác nhau. Lý Đỉnh Tộ dẫn Ngu Phiên cho rằng “Chẩm” tức là “chỉ” (dừng lại). Cũng chính Lý Đĩnh Tộ lại dẫn Can Bảo giảng rằng “Chẩm” tức là “An” và nghĩa câu là “an nhẫn” (nhẫn tâm dùng bạo chính với dân mà không có lòng thương xót: an nhẫn dĩ bạo chính gia dân nhi vô ai căng chi tâm ).

Lục Đức Minh lại cho rằng theo cổ văn “Chẩm” tức là “trầm” (ngâm vào). Du Việt trong Quần kinh bình nghị cũng cho rằng “Chẩm” là “trầm” (chẩm đáng vi trầm ) và cách giải thích này được Cao Hanh đồng ý . Tư Mã Thiên chú “trầm” tức là “thâm” (sâu). Như vậy, theo Cao Hanh, “hiểm thả chẩm” tức là “hiểm thả thâm” (vừa nguy vừa sâu).

Trương Thiện Văn và Hoàng Thọ Kỳ dịch hào Lục Tam quẻ Khảm như sau: Đến hay đi đều nằm trong cảnh nguy hiểm, đi tới gặp nguy, quay về ở nhà khó yên lành, rơi vào chỗ hố sâu, không thể thi thố tài năng. (Lai khứ đô xử tại hiểm hãm chi gian, vãng tiền hữu điểm, thoái cư nan an, lạc nhập hãm huyệt thâm xứ, bất khả thi triển tài dụng).

Hào Lục Tứ – Hào 4 quẻ Khảm (thuần Khảm)

Hào Lục Tứ quẻ Khảm viết:

Lục tứ. Tôn tửu quỷ nhị dụng phẫu. Nạp ước tự dũ. Chung vô cữu. (樽 酒 簋 貳 . 用 缶 . 納 約 自 牖 . 終 無 咎)

Dịch nghĩa: Hào Lục Tứ, Âm: Một bình rượu, hai chén ( một chén đựng lúa mạch và một chén đựng lúa tắc), dùng bồn sành (để đựng thức ăn), dâng và lấy (cơm rượu) qua đường cửa sổ, (bói được hào này) cuối cùng không có tai hại gì.

Giải thích: “Tôn tửu” 樽 酒 Cao Dụ khi chú Hoài Nam Tử giải thích là “đồ đựng rượu” (tửu khí ). Lục Đức Minh giảng tương tự.

Chữ “Tôn” 樽 (âm Bắc Kinh hiện đại là /zun/ bây giờ viết có chữ “đại” ở dưới, ngày xưa viết bộ Thốn  ). Trịnh Huyền chú: Cổ văn tôn vi tôn. Cả hai chữ Tôn đó đều viết là 樽. Theo Chu Lễ có sáu loại “tôn”: hy tôn, tượng tôn, trợ tôn, hồ tôn, thái tôn và sơn tôn dùng để dùng đãi khách trong dịp tế tự. “Tôn tửu” trong trường hợp này có nghĩa là ““ly đầy rượu” (tôn doanh tửu). Từ Tử Hùng giải thích “Tôn” là “bát đựng đầy rượu” (doanh tửu đích khí mãnh), “bình đựng rượu” (tửu hồ ).

Quỷ” 簋 (âm Bắc Kinh hiện đại là /gui/) là chén đựng đầy cơm (doanh phạn đích khí mãnh) hay “liễn đựng cơm” (phạn hạp). Như vậy “Quỷ nhị” 簋 貳 là “hai chén cơm” (lưỡng quỷ thực). Lý Đỉnh Tộ dẫn Ngu Phiên giảng chữ “Nhị” có nghĩa là “phó” . Huệ Đống cũng giảng tương tự. Wilhelm cũng không cho “nhị” là “hai” nên cụm từ “Quỷ nhị” ông dịch ra là “một bát cơm”. Thuyết văn giải tự giảng “Quỷ” là dụng cụ hình vuông đựng lúa mạch và lúa tắc” (mạch tắc phương khí).

Phẫu”缶 là dụng cụ làm bằng gốm (ngõa khí). “Dụng phẫu’用 缶 có nghĩa là “dùng bình đất đựng đồ ” (dĩ ngõa phẫu doanh vật).

“Dũ” 牖 (âm Bắc Kinh hiện đại là /you/) là “cửa sổ” (song hộ). “Nạp ước tự dũ ” ,Trương Thiện Văn và Hoàng Thọ Kỳ giải thích là “thông qua cửa sổ sáng kết nạp lời nguyện ước chân thành” (thông quá minh song kết nạp tín ước). Cao Hanh giảng cụm từ này có nghĩa là: “Dâng rượu và đồ ăn từ cửa sổ ” (hiến kỳ tửu thực tự dũ dã).

Cao Hanh ngờ rằng câu này ám chỉ lễ gả con gái (nghi chỉ giá nữ chi tế nhi ngôn). Ông viết: “Theo thông lệ lễ xưa, tế gia đình làm trong nhà, tế chuyện ngoài thì làm ngoài nhà, lễ gả con gái, thì nữ là vai chủ tế, nữ sắp về nhà họ ngoại tộc, nên cũng xem là lễ ngoài, nên phải tiến hành ngoài cửa phía dưới cửa sổ” (Cái cổ lễ thông lệ, gia tế tại thất trung, ngoại tế tại thất ngoại, giá nữ chi tế, nãi nữ vi tế chủ, nữ tương quy ngoại tính, thị ngoại tế dã, cố tại thất ngoại dũ hạ dã).

Từ Tử Hùng lại hiểu khác hẳn. Ông dịch hào Lục Tứ quẻ Khảm như sau: “Dùng chén đồng đựng rượu, dùng liễn tròn đựng thức ăn, nhưng đối với phạm nhân bị giam trong hầm sâu, chỉ cần dùng bồn dựng bằng sành là được, đồ ăn cho tù đưa ra ngõ cửa sổ, người đã gặp phải cảnh ngộ này, kết cuộc không còn nguy hiểm nữa” (Dụng đồng tôn doanh tửu, dụng viên quỉ doanh phạn, nhiên nhi đối vu quan áp tại khảm diếu lý đích phạm nhân, chỉ tu dụng ngõa bồn tử tựu hành liễu, lao phạn tòng thiên song lý tống tiến thu xuất, kỳ nhân tao thử ngạc vận, đán tối hậu hoàn thị một hữu nguy hiểm).

Đây cũng là một kiến giải độc đáo, chỉ tiếc tác giả không cho biết căn cứ từ đâu mà ông dịch như thế, nhưng Cao Hanh và Từ Tử Hùng hiểu chính xác đây “ước” 約 không phải là “nguyện ước” hay “tín ước” như nhiều dịch giả hiểu lầm. Trong Chu Dịch nghĩa chứng loại toản “ước” được giải thích là “thu lấy” (ước, thủ dã).

Thuyết văn giải tự còn giải thích “ước” là “trộm cắp” (ước, đạo thủ dã). Như vậy “nạp ước” không có nghĩa là “kết nạp tín ước” mà chỉ hai động tác: “nạp” là giao (đồ ăn) cho và “ước” là thu (đồ dụng thức ăn) lại, cả hai động tác giao và lấy lại đều qua đường cửa sổ (tự dũ)

Wilhelm bình về hào Lục Tứ quẻ Khảm như sau: Trong thời kỳ nguy khốn những lễ nghi rườm rà bị loại bỏ. Điều quan trọng nhất là chí thành. Mặc dù theo quy luật thông thường một viên quan phải dâng tặng lễ vật và thư giới thiệu trước khi được bổ nhiệm, ở đây mọi thứ đều được đơn giản hóa đến mức tối đa. Quà cáp là vô nghĩa, không có ai đứng ra bảo trợ cho anh ta (viên quan), anh phải tự giới thiệu mình. Tuy vậy không nhất thiết phải là một chuyện xấu hổ nếu chỉ có ý chân thành muốn giúp đỡ nhau trong lúc nguy nan.

Hào Cửu Ngũ – Hào 5 quẻ Khảm (thuần Khảm)

Lời hào Cửu Ngũ quẻ Khảm viết:

Cửu ngũ. Khảm bất doanh. Kỳ ký bình. Vô cữu. (坎 不 盈 . 只既 平 . 無 咎)

Dịch nghĩa: Hào 5, Dương: Hố vẫn chưa tràn đầy, nhưng (chân) đã đạp xuống được đất bằng (nguy hiểm nhất đã qua), không phải nguy hiểm nữa.

Giải thích: “Doanh” 盈 Lý Đỉnh Tộ dẫn Ngu Phiên giảng là “đầy” (doanh, dật dã ). “Bất doanh” 不 盈 có nghĩa là “chưa đầy mà đã tràn ra” (vị doanh mãn nhi dật xuất dã)

“Chi” 祇 (âm Bắc Kinh hiện đại là /zhi/) theo Lục Đức Minh dẫn Trịnh Huyền chú là “gò nhỏ” (tiểu khâu), có thể viết là “Chi”với bộ Thổ bên trái. Wilhelm dịch hào Cửu Ngũ quẻ Khảm như sau: “Hố thẳm chưa đầy đến nỗi tràn, chỉ mới đầy đến miệng hố. Không có lỗi”. Từ Tử Hùng dịch hào Cửu Ngũ quẻ Khảm là: “Tuy hố sâu chưa được đổ nước đầy, đồi núi nhỏ đã bị san bằng, không có tai nạn” (Khảm khanh tuy một hữu điền mãn, tiểu sơn đầu khước bị sừ bình, một hữu tai nạn).

Trương Thiện Văn dịch khác: “Hố sâu hiểm hãm tuy chưa tràn đầy, vùng đất cao ráo đã được bằng phẳng trọn vẹn, không có lo lắng về tai nạn” (Hãm hạ đích khảm khanh tuy vị doanh mãn, long khởi đích cao địa tắc dĩ bình chỉnh, một hữu tai hoạn).

Hào Cửu Ngũ quẻ Khảm nằm tại trung tâm của thượng quái, nước vẫn chảy vào hố, tuy chưa tràn ngập, vẫn chưa thoát hiểm được. Nhưng nhờ Cửu Ngũ là hào Dương cương trung chính, lại cư tôn vị, nên vẫn có thể cầm đầu thống trị thiên hạ. Hơn nữa, hào Cửu Ngũ nằm tiếp cận với vị trí kết thúc quẻ Khảm, giống như đang trong dòng nước, chân đạp trúng một vùng bằng phẳng, chẳng bao lâu có thể thoát hiểm. Wilhelm cũng giảng rằng hào này vẫn tượng trưng cho thời kỳ hết sức nguy hiểm và trong thời kỳ này chẳng hy vọng gì làm được đại sự. Thoát ra khỏi nguy hiểm là tốt rồi.

Hào Thượng Lục – Hào 6 quẻ Khảm (thuần Khảm)

Lời hào Thượng Lục quẻ Khảm viết:

Thượng Lục. Hệ dụng huy mặc. Trí vu tùng cức. Tam tuế bất đắc. Hung. (係 用 黴 纆, 寘 于 叢 棘,  三 歲 不 得,  凶)

Dịch nghĩa: Hào trên cùng, Âm: Bị trói chặt bằng dây thừng dây chão, giam trong lao tù gai góc, ba năm rồi vẫn chưa được giải thoát, tình hình nguy ngập.

Giải thích: “Huy” 徽 và “mặc”纆 (âm Bắc Kinh hiện đại là /mò/) đều là tên các loại dây thừng (thằng sách chi danh ). Chữ “mặc” 纆 trong Bạch Thư Chu Dịch không có thêm bộ Thổ ở dưới. “Chí” 寘 (âm Bắc Kinh hiện đại /zhì/) dùng thông với “trí” 置 (an trí, xếp đặt). Bạch Thư Chu Dịch không chép “chí” 寘 mà chép “thân ”親.

“Cức” 棘 là “cây gai”. Trong Phương Ngôn (quyển 3) viết: “Bất kỳ loại thảo mộc nào châm chích người, trong giữa vùng Giang Nam và Tương Dương đều gọi là “cức” (Phàm thảo mộc thích nhân, Giang Tương chi gian vị chi cức). “Tùng Cức” 叢 棘 theo Lý Đỉnh Tộ dẫn Ngu Phiên giảng là: “Bên ngoài ngục có trồng chín cây gai, nên gọi là tùng cức” (ngục ngoại chủng cứu cức, cố xưng tùng cức).

Wilhelm dịch “tùng cức” là “thành ngục có gai bao quanh”. Từ Tử Hùng giải thích thêm: “Tùng cức chỉ cảnh ngục tù, trong thời cổ, bên ngoài ngục, chung quanh có trồng cây gai, để phòng tù nhân vượt ngục” (Tùng cức chỉ lâm ngục, cổ đại ngục ngoại, vi chủng tùng cức, dĩ phòng tù phạm đào thoán).

Trong Bạch Thư Chu Dịch không chép “Cức” 棘 mà chép là “lặc” 勒  . Thật ra “lặc” hay “thân” đều là tiếng giả tá cận âm của “cức” hay “chí” mà thôi, nghĩa không thay đổi. Hào này rõ ràng chỉ cảnh tù tội. Có thể là mô tả cảnh Chu Văn Vương khi đang bị giam trong ngục Dữu Lý.

Cả quẻ Khảm này không có một tư tưởng quán xuyến, hoàn chỉnh, nhưng tông chỉ vẫn là thuyết minh ý nghĩa chữ Khảm, thuyết minh mối quan hệ giữa nhân sự và các điều kiện hoàn cảnh biến hóa của quẻ Khảm. Hào Sơ Lục mở đầu đã cho thấy cảnh người rơi vào chỗ hố sâu, hiểm hãm, cũng có thể là do lầm lỗi bản thân, cũng có thể là do dốt nát tạo thành, nên kết quả là “hung”  凶.

Nếu đã biết trước được sự nguy hiểm mà hành sự cẩn trọng, không những có thể tránh được hiểm nguy, mà còn có thể có được chỗ sở đắc trong những chuyện nhỏ, cho nên hào Cửu Nhị tiếp theo mới nói là “khảm hữu hiểm, cầu tiểu đắc”. Đến đây đã có được chút nhận thức, lại thêm chuẩn bị đề phòng, nên có ý tưởng an nhân, không lo lắng gì.

Hào Lục Tam quẻ Khảm nói “lai chi khảm khảm, hiểm thả chẩm, nhập vu khảm đạm, vật dụng” 來 之 坎 坎 . 險 且 枕 . 入 于 坎 窟 . 勿 用  rõ ràng thuyết minh sự thay đổi về điều kiện và hoàn cảnh khách quan mà con người cần lập tức thích ứng để thay đổi theo: hoàn cảnh thay đổi đó là ngay trong hố sâu lại phát hiện có thêm một hố sâu khác, trùng trùng nguy hiểm, nhưng vẫn không thể đình chỉ mọi hoạt động, tuy chưa rơi hẳn trong hố sâu mới nhưng vẫn chưa thể thoát ra được hố sâu thứ nhất.

Tình hình diễn biến liên tục, thay đổi bất ngờ, hung hiểm tứ phương, nên hào Cửu Ngũ quẻ Khảm nói “khảm bất doanh, kỳ ký bình” 坎 不 盈 . 只既 平 có nghĩa là một hoàn cảnh khách quan này chưa kết thúc, một hoàn cảnh mới đã lập tức phát sinh. Hào Lục Tứ quẻ Khảm lại bản đến chuyện tế tự, hào Thượng Lục quẻ Khảm thì lại bàn chuyện ngục tù.

Chuyện tế tự chỉ cần lòng chí thành, lễ vật không nên quá cầu kỳ, miễn nghi thức đúng đắn là được. Ngục tù là chuyện nghiêm trọng, lại thêm thời gian đã quá lâu, cần phải tức tốc giải quyết, xử lý, nếu không bách tính oán vọng, tình hình càng hung hiểm thêm. Nói chung quẻ Khảm thuyết minh về tình huống nguy hiểm dồn dập và sự thận trong tối đa để thoát ra khỏi cảnh hiểm hãm, ngục tù.

Tổng luận quẻ Khảm (Thuần Khảm)

Tổng luận về quẻ Khảm, Trương Thiện Văn và Hoàng Thọ Kỳ giảng như sau: “Bài Phục Chí Phú  復 志 賦  của Hàn Dũ có câu: “Xưa, ta tài trí, mà thực trắc trở gian nan” (Tích dư chi ký hữu tri hề, thành khảm kha nhi gian nan). Bài Quá Bình Nguyên Tác 過 平 原 作 của Văn Thiên Tường có câu: “Gian nan bất đắc chí, bốn triều bậc tôi trung” (Kỳ khu khảm kha bất đắc chí, xuất nhập tứ triều lão trung tiết).

Qua thi phú, hai ông đã than thở đường đời nguy hiểm khó đi. Mục đích của quẻ Khảm chính là nói lên đạo lý phải cẩn thận khi gặp gian nan. Quái Từ cốt ở khuyên bảo rằng khi đối mặt vô vàn nguy hiểm, ta chớ đánh mất thành tín, trong lòng thư thái, như vậy sẽ vượt qua nguy nan, tiến tới đạt được tốt đẹp. Cả lục hào của quẻ Khảm không nói đến cát, mà chỉ đưa ra lời cảnh tỉnh từ hai mặt chính diện và phản diện.

Trong bốn hào Âm của quẻ Khảm, trừ hào Lục Tứ là nhu chính thừa cương, thận trọng xử cảnh nguy hiểm nên vô cữu. Ba hào Âm còn lại đều có điểm hung: Hào Sơ Lục nhu nhược mà ở dưới hai quẻ Khảm đè lên nhau, tức là rơi sâu vào hãm huyệt rất hung hiểm. Hào Lục Tam là âm nhu thất chính, day trở đều không thoát hiểm, cuối cũng chẳng làm được gì. Hào Thượng Lục là Âm ở vào chỗ nguy hiểm cực độ, bị trói buộc giam hãm, xui xẻo tới ba năm.

Hai hào Cửu Nhị và Cửu Ngũ, cương kiện và cư trung, đó là chỗ hy vọng dẹp tan nguy hiểm của quẻ Khảm. Dù hai hào này chưa thoát hết nguy hiểm thực sự, nhưng hào Cửu Nhị đã cố gắng và siêng năng trong sự thận trọng cầu được ít (thận cầu tiểu đắc), còn hào Cửu Ngũ thì tiếp tục phấn đấu phát triển sau khi đã san bằng gò nhỏ. Ý chỉ “thường đức hạnh, tập giáo sự” của Đại Tượng Truyện và “hành hữu thượng” của Quái Từ dường như đã được thể hiện khá sâu sắc ở hai hào này, nhất là ở hào Cửu Ngũ.

Có thể thấy, nghĩa lý “hành hiểm” (xử trí nguy hiểm) của quẻ Khảm là đặt trên cơ sở dương cương và thành thực tin tưởng, nhấn mạnh đức cẩn thận kiên trì, có thế mới vượt qua nguy hiểm.

Sử Ký, Hạ Bản Kỷ chép sự tích ông Vũ đời nhà Hạ trị thuỷ, khen là “lao tâm khổ trí, xa nhà 13 năm, đi ngang qua cửa cũng không dám vào nhà ” (lao tâm tiêu tư, cư ngoại thập tam niên, quá gia môn bất cảm nhập). Cuối cùng dẹp được nạn hồng thuỷ. Liệt Tử Thang Vấn có kể ngụ ngôn Ngu Công dời núi, lập chí dùng nguồn nhân lực bất tận là con cháu đời đời để dẹp trừ sự hiểm trở của núi Thái Hùng và núi Vương Ốc.

Hai thí dụ đó có thể mượn để tham chứng cho nội hàm tượng trưng của Thoán Truyện: “hành hiểm nhi bất thất kỳ tín” 行 險 而 不 失 其 信 (trong nguy hiểm không mất niềm tin), “nãi dĩ cương trung” 乃 以 剛 中 (dùng cương trung), và “vãng hữu công” 往 有 功 也 (tiến lên có công)

Quẻ Khảm với giặc Hoàng Sào trong lịch sử

Quẻ Khảm đã dự đoán đúng việc nghĩa quân Hoàng Sào nổi dậy tiêu diệt nhà Đường. Thời kỳ này, vùng Trung Nguyên nhiều năm xảy ra hạn hán, khởi nghĩa nông dân nổ ra ở khắp nơi.

Quẻ Thuần Khảm ứng với loạn Hoàng Sào
Quẻ Thuần Khảm ứng với loạn Hoàng Sào

Sấm viết:

Phi bạch phi hắc, Thảo đầu nhân xuất.

Tá đắc nhất chi, Mãn thiên phi huyết.

Dịch nghĩa:

Không trắng không đen, Thảo đầu có người.

Mượn được một nhánh, Đầy trời máu rơi.

Tụng viết:

Vạn nhân đầu thượng khởi anh hùng.

Huyết nhiễm hà sơn nhật sắc hồng.

Nhất thụ lý hoa đô thảm đạm.

Khả liên sào phúc dã thành không.

Dịch nghĩa:

Trên cả vạn người khởi anh hùng.

Máu nhuộm sơn hà mặt trời hồng.

Một cây hoa mận sao u ám.

Thương thay tổ lật lại thành không.

Kim Thánh Thán bình chú:

Tượng này chỉ Hoàng Sào làm phản, vận của triều Đường cho đến hết thời Chiêu Tông. Chu Ôn giết vua lên ngôi, cải quốc hiệu thành Lương Ôn, vì là bè đảng cũ của Hoàng Sào nên lời tụng mới viết “Sào phúc dã thành không”( Tổ lật lại thành không)

Ý nghĩa của đồ hình

Cây trong hình vẽ là cây mận (lý), hoa rụng tả tơi, tượng trưng cho tình cảnh suy bại của nhà Lý Đường. Trên cây còn có một cái tổ, ngầm ám chỉ khởi nghĩa Hoàng Sào ( sào“ trong tiếng Hán nghĩa là tổ), nhưng trong tổ lại trống rỗng, chính là cho thấy giấc mộng của Hoàng Sào cuối cùng chỉ là hư không. Phía dưới có một vài xác chết, tượng trưng cho khởi nghĩa Hoàng Sào khiến rất nhiều người thiệt mạng.

Ý nghĩa của bài thơ

Tượng này dự đoán về vận mệnh của đế quốc Đường và bản thân Hoàng Sào. Mới đầu, Hoàng Sào tiến quân thuận lợi, giành chiến thắng, công phá Trường An, tiến vào kinh thành xưng đế. Dân chúng Trường An lúc đó bị triều Đường ức hiếp đã lâu, luôn mong ngóng sẽ có một vị minh quân xuất hiện, và họ cho rằng Hoàng Sào chính là vị minh quân đó. Bởi vậy đã hân hoan đón tiếp đội quân của Hoàng Sào.

Thực tế, tình hình này vốn có thể được duy trì dài lâu, song Hoàng Sào lại không biết thương yêu bách tính, không ban ân huệ cho dân chúng, ngược lại, còn hống hách tàn bạo, dung túng cho quân lính ngang nhiên vơ vét của cải, giết hại dân chúng, cướp đoạt con gái nhà lành. Một lần, thuộc hạ của Hoàng Sào phát hiện thấy một bài thơ châm biếm đả kích Hoàng Sào, song vì không điều tra được tác giả là ai, nên Hoàng Sào đã hạ lệnh giết chết ba nghìn Nho sinh biết sáng tác thơ trong thành. Từ đó trở đi, dân chúng trong thành Trường An lâm vào cảnh lầm than, Hoàng Sào không còn được dân chúng tin tưởng, chính quyền xây dựng chưa đầy hai năm đã bị lật đổ, bản thân Hoàng Sào phải bỏ trốn.

Phi bạch phi hắc, Thảo đầu nhân xuất” (không phải trắng không phải đen, có người thảo đầu xuất hiện).

Người xưa gọi năm màu đỏ, vàng, xanh, đen, trắng là “ngũ sắc. Không phải trắng cũng không phải đen, lại có bộ thảo xuất hiện ở bên trên, thì chính là “hoàng“ (黃), ám chỉ Hoàng Sào.

Mượn được một nhánh” ý nói sau khi khởi nghĩa Hoàng Sào nổ ra, Hoàng Sào đã mượn một cánh quân từ chỗ Vương Tiên Chi.

Đầy trời máu rơi“ Ý nói Hoàng Sào tấn công vào thành Trường An, đi tới đâu chém giết tới đó, xác chết chất thành đống.

Trong câu “Vạn nhân đầu thượng khởi anh hùng“, chữ “Vạn” (萬) chính là có một bộ thảo ở trên đầu, bởi vậy “vạn nhân đầu thượng” (trên đầu chữ vạn) ám chỉ chữ “Hoàng”. “Khởi anh hùng” là anh hùng nổi dậy, dự đoán sắp xảy ra khởi nghĩa.

Huyết nhiễm hà sơn nhật sắc hồng” (máu nhuộm núi sông mặt trời rực hồng)

Là dự đoán sau khi giành thắng lợi. Hoàng Sào giết người vô cớ máu chảy nhuộm đỏ cả mặt trời.

Nhất thụ lý hoa đô thảm đạm“ (cả một cây hoa mận đều điêu tàn)

Ý nói Đường Hy Tông cuống cuồng chạy tới Ba Thục, tông thích của dòng họ Lý ở tại Trường An đều bị giết sạch.

Khả liên sào phúc dã thành không“ (thương thay tổ (sào) lật lại thành không“.

Câu này dự đoán hai sự việc, thứ nhất triều Đường từ đây bị lật đổ, giang sơn rơi vào tay Hoàng Sào. Thứ hai. Hoàng Sào lên ngôi hoàng đế chưa đươc bao lâu, đã bị lật đổ, mọi công sức đều uổng phí.

Ứng tượng quẻ Khảm trong Kinh dịch

Tượng này tương ứng với quẻ Khảm trong Kinh Dịch. quẻ trên và quẻ dưới đều là quẻ Khảm trong Bát quái, Hào Âm ở hai bên, hào Dương ở giữa. Quẻ Khảm đại diện cho nước, phương vị là phương bắc, màu sắc là đen. Nước có thể chảy tràn khắp nơi. Phia bắc đại diện cho cảnh thê lương, ảm đạm, màu đen càng làm tăng thêm không khi u ám.

Toàn bộ quẻ Khảm tượng trưng cho con người rơi vào tình cảnh nguy khốn không thể giải thoát. xung quanh đều là cạm bẫy. Đau thương và thống khổ bao vây, viễn cảnh mờ mịt, tượng quẻ và ý nghĩa của quẻ Khảm đều phản ánh tình trạng xã hội lúc đó. Hoàng Sào khởi binh làm phản, các phiên trấn cũng nổi loạn theo, triều Đường vì thế mà chao đảo, dân chúng lầm than cơ cực, xã hội tang thương, đâu đâu cũng thấy cảnh giết người máu chảy.

Nhìn từ hào tượng của quẻ Khảm, trong quẻ trên dưới, hào Âm đều vây kín hào Dương ở giữa, khiến hào Dương không thể phát triển bình thường, chính khí bị tà khí trói buộc không thể thoải mái hoạt động, cho thấy tình cảnh khó khăn nguy hiểm đang ập tới khó mà đối phó.

Quẻ Thuần Khảm – Hào Sơ Lục

Hào Sơ Lục quẻ Thuần Khảm viết:

Sơ Lục. Tập Khảm. Nhập vu Khảm lãm. Hung.

có nghĩa là bản thân ở trung nguy rốn giống như rơi vào cảm bấy, nên hung.

“Tượng viết: Tập Khảm. Nhập Khảm. Thất đạo hung dã.

Có nghĩa là rơi vào nguy khốn, không cố thủ vững vàng, lại thêm tính cách yếu đuối, thiếu năng lực, không được người ngoài trợ giúp, do đó gặp hung dữ là điều đương nhiên. Hào này dự đoán vào cuối triều Đường, hoàng đế hủ bại vô năng, mất dần quyền lực quân sự, tại không thiết lập quan hệ thân thiết với dân tộc thiểu số xung quanh, khiến bản thân rơi vào tình cảnh nguy khốn không thể cứu văn nổi.

Quẻ Thuần Khảm – Hào Cửu Nhị

Hào Cửu Nhị quẻ Thuần Khảm viết

Cửu nhị. Khảm hữu hiểm. Cầu tiểu đắc. Ý nói tuy thành công chút it, song vẫn đang ở trong tình thế nguy hiểm, giải quyết vấn đề nhỏ lại không thể làm thay đổi xu thế lớn.

Tượng viết: Cầu tiểu đắc. Vị xuất trung dã. Cho thấy lúc này vẫn chưa thoát khỏi nguy hiểm. Ở đây ý nói tướng lĩnh của triều Đường tuy có thắng lợi chút ít trong cuộc chiến với Hoàng Sào, song chưa thấm thấp vào đâu, cục diện rạn nứt vẫn ngày càng lan rộng, muốn khôi phục thống nhất, chỉ nhờ vào chút thành công này sẽ không thể đạt được.

Quẻ Thuần Khảm – Hào Lục Tam

Hào Lục Tam quẻ Thuần Khảm viết:

Lục tam. Lai chi Khảm Khảm. Hiểm thả chẩm. Nhập vu Khảm lạm. Vật dụng. hào này hô ứng với hào Thượng Lục, biểu thị lúc này đang lâm vào tình cảnh nguy khốn nhất, khó mà bảo đảm an toàn, chỉ còn cách âm thầm chờ đợi, không được hành động tuỳ tiện.

Tượng viết: Lai chi Khảm Khảm. Chung vô công dã. lời tượng cho rằng lúc này tấn công hay rút lui đều gặp tai hoa, chi bằng tạm thời đứng yên cố thủ, nếu nóng vội muốn dẹp yên ngay, e rằng sẽ càng nguy hiểm, không để thoát khỏi sóng gió. Ở đây ý nói về việc Hoàng Sào thuận lợi đánh chiếm già nửa Trung Quốc, sắp sửa có được Trường An, con cháu của triều Đường chỉ còn biết ngồi chờ chết, nếu không sẽ gặp hoạ sát thân.

Quẻ Thuần Khảm – Hào Lục Tứ

Hào Lục Tứ quẻ Thuần Khảm viết:

Lục tứ. Tôn tửu quỷ nhị dụng phẫu. Nạp ước tự dũ. Chung vô cữu. có nghĩa là làm cơm rượu chiêu đãi khách, lại đặt quà tặng vào trong vò bày tỏ sự tôn kính đối với khách.

Tượng viết: Tôn tửu quĩ nhị. Cương nhu tế dã. có nghĩa là trong khó khăn, nếu có thế kết giao mật thiết, thành thực với nhau, vừa cương lại vừa nhu sẽ có thể tránh được tai nạn. Hào này dự đoán, sau khi Hoàng Sào giành thắng lợi tiến vào thành Trường An, được dân chúng vui mừng đón tiếp, bản thân Hoàng Sào và thuộc hạ cũng đã đối xử thân thiết với dân chúng trong thành, nên tạm thời tránh được chiến hoả kéo dài.

Quẻ Thuần Khảm – Hào Cửu Ngũ

Hào Cửu Ngũ quẻ Thuần Khảm viết:

Cửu ngũ. Khảm bất doanh. Kỳ ký bình. Vô cữu. có nghĩa là nước trong hố vẫn chưa trào ra ngoài, nhưng đã ngang bằng với mặt đất, ngụ ý tai hạa vẫn chưa giáng xuống.

Tượng viết: Khảm bất doanh. Trung vị đại dã. là chỉ vị trí nước còn chưa dâng cao tới bề mặt, cảnh báo lúc này cần đối xử thân thiết, hoà nhã, không được tự cao tự đại thì có thể ngăn chặn được tai hoạ. Hào này ý nói quân Đường trở lại Trường An, thực lực ngang bằng với Hoàng Sào, nhưng nếu hành động thiếu thận trong thì hậu hoạ sẽ khôn lường, giống như nước tràn ra ngoài thì khó mà thu hồi cục diện. Mặt khác cũng cho thấy Hoàng Sào cần phòng ngự, nếu không các phiên trấn liên kết nhau lại, cũng có thể cướp mất Trường An.

Quẻ Thuần Khảm – Hào Thượng Lục

Hào Thượng Lục quẻ Thuần Khảm viết:

Thượng Lục. Hệ dụng huy mặc. Trí vu tùng cức. Tam tuế bất đắc. Hung. có nghĩa là con người bị trói chặt bằng dây thừng, giam trong địa lao đầy gai thì ba năm cũng không thể giải thoát được, cho thấy tình thế vô cùng nguy cấp.

Tượng viết: Thượng Lục thất đạo. Hung tam tuế dã. Lời tượng cho rằng hào Thượng Lục trong quẻ Khảm đối diện với hiểm nguy không có lối thoát, trước đó không theo chính đạo, nên sẽ phải chịu đựng sự dày vò tai họa trong suốt ba năm. Ở đây ý nói hoàng đế triều Đường không nghe theo lời khuyên của quân thần, tuỳ tiện tin vào lời gièm pha của tiểu nhân và thái giám, trao giang sơn Đại Đường vào tay phiến tặc. cũng cho thấy cuối cùng Hoàng Sào không thể làm hoàng đế mãi mãi, mà bị truy bắt và giết hại.

Lịch sử ẩn phía sau tượng

Hoàng Sào là người Oan Câu, Tào Châu (nay là huyện Tào, Sơn Đông) sống vào thời Đường, ông vốn là một Nho sinh, dự thi nhiêu lần mà không đỗ, trong lòng sinh niềm oán hận. Hoàng Sào kiếm sống bằng nghề làm ruộng, cuộc sống lam lũ khiến ông cảm thấy chán nản cho thân phận mình, đường đường là một nho sinh, mà lại phải sống cuộc đời của nông dân hay sao? Trong lúc buồn bực, ông đã sáng tác bài thơ “Đề cúc hoa” như sau

Táp táp tây phong mãn viện tài

nhị hàn hương lãnh diệp nan lai.

Tha niên ngã nhược vi Thanh đế

Báo dữ đào hoa nhất xứ khai

Dịch thơ:

Vi vút đầy vườn thổi gió tây

Nhụy rầu hương lạnh bướm khôn bay.

Nếu xuân năm tới ta làm chúa.

Truyền với hoa đào nở cả đây.

Qua bài thơ này có thể thấy rõ chí hướng của Hoàng Sào. Trong khoảng thời gian mười mấy năm, từ thời Đường Ý Tông Hàm Thông (năm 860 – 873) tới thời Đường Hy Tông Càn Phù (năm 874 – 879), vùng Trung Nguyên liên tục xảy ra hạn hán kéo dài, khắp nơi đều là cảnh vườn ruộng khô cằn xơ xác, dân chúng đói khổ. Gia đình Hoàng Sào cũng không ngoại lệ, trong nhà chẳng còn gì để ăn. Chính vì vậy mà nông dân khắp nơi đua nhau nổi dậy.

Vào đầu năm Càn Phù thứ 2 (năm 875), nhóm Vương Tiên Chi, Thương Nhượng phát động khởi nghĩa ở Trường Viên (phía đông bắc Trường Viên, Hà Nam ngày nay), lúc này, chiến tranh nông dân cuối Đường đã chính thức bùng nổ. Vương Tiên Chi là người Bộc Châu, bình thường kiếm sống bằng nghề bán muối.

Khi đó, quan lại triều Đường vì muốn vơ vét cho đầy túi tham, nên đã dùng vũ lực để lũng loạn việc buôn bán muối. Họ đã đàn áp những người buôn bán muối nhỏ lẻ, bởi vậy, Vương Tiên Chi đã bị cắt đứt đường mưu sinh, thậm chí mạng sống cũng bị đe doạ. Tuy nhiên từ nhỏ, Vương Tiên Chi đã theo học võ nghệ, võ công của ông rất khá, sau khi bị áp bức, ông đã vùng lên, hiệu triệu quần chúng, khởi binh chống Đường, lãnh đạo quân khởi nghĩa chinh phạt khắp nơi.

Tháng 5 năm đó, Hoàng Sào cùng một số anh em trong dòng tộc phấn khởi hưởng ứng theo, hơn nữa còn chiêu mộ đươc nghìn dân chúng tham gia quân khởi nghĩa. Tiếp đến, quân Hoàng Sào và Vương Tiên Chi đã hợp sức tác chiến, không lâu sau đã chiếm lĩnh được các vùng xung quanh Lạc Dương. Hoàng đế triều Đường vội vàng điều đại quân tới trấn thủ Đông đô Lạc Dương, quân khởi nghĩa đành phải chọn sách lược rút lui. Họ đã giao chiến với quân Đường ở vùng Trịnh Châu (huyện Trịnh, Hà Nam), Đường Châu (Tẩm Dương, Hà Nam), sau này lại tiến tới các vùng như Hồ Bắc, An Huy, luôn tìm cách tấn công quân Đường.

Hoàng đế triều Đường lúc này chỉ còn tồn tại trên danh nghĩa, quyền lực nằm cả trong tay thái giám. Đường Hy Tông thậm chí còn tôn xưng thái giám tổng quản trong triều là cha, không còn nỗi nhục nào hơn thế nữa. Chính vì điều này mà đội quân của Vương Tiên Chi và Hoàng Sào mới có thế thuận lợi tiến tới vùng Lạc Dương.

Trên đường tới giao tranh với quân Đường, quân khởi nghĩa gặp đệ tử của tể tướng đương triều Bá Côn là Vương Đạc. Vương Đạc vốn chẳng có tài cán gì, lại là người hẹp bời, nhìn thấy quân khởi nghĩa khí thế ngút trời, đã khuyên Đường Hy Tông rằng: nên chọn chính sách chiêu an để bình định phiến loạn.

Vì muốn mau chóng trở lại những ngày tháng thái bình hưởng lac. Đường Hy Tông đã giáng chỉ phong Vương Tiên Chi làm tả thần sách quân áp nha, với dụng ý mua chuộc lòng dân. Vương Tiên Chi mới đầu đồng ý chiêu an, bởi lẽ ông đứng lên khởi nghĩa là vì cuộc sống, hiện tại đã có thể hưởng lạc rồi, không có cớ gì lại không đồng ý. Tuy nhiên Hoàng Sào lại vô cùng tức giận, vì thấy triều đình chỉ ban chức cho một mình Vương Tiên Chi, còn mình lại chẳng có thân phận gì.

Sau đó, mâu thuẫn giữa Vương Tiên Chi và Hoàng Sào ngày càng lớn, cuối cùng vì chuyện này mà đường ai nấy đi. Vương Tiên Chi cũng dần dần hờ hững với việc chiêu an, tự dẫn 3 nghìn quân đi đánh chiếm các vùng khác. Trên đường tới Hoàng Mai, Hồ Bắc, đã bị một cách quân của triều Đường mai phục, do không chuẩn bị trước, Vương Tiên Chi đã bị giết chết.

Sau khi ông chết đi, quân lính của ông ta đã tới đầu quân cho Hoàng Sào, nhất trí ủng hộ Hoàng Sào lên làm Hoàng vương. Hoàng Sào tự xưng là Xung Thiên đại tướng quân, lấy niên hiệu là Vương Bá, từ đó, Hoàng Sào trở thành thủ lĩnh tối cao của quân khởi nghĩa.

Trước hết, Hoàng Sào dẫn quân về phía bắc, liên tiếp tấn công các châu quận như Nghi, Bộc, sau đó lại tiến quân về phía tây men theo Hoàng Hà, muốn một trận mà giành được Đông đô Lạc Dương. Tuy nhiên, tướng lĩnh của triều Đường xung quanh Lạc Dương rất đông, Hoàng Sào tự lượng sức mình không chống đỡ nổi quân Đường, bèn đổi hướng, chỉ huy quân tiến về phía nam.

Sau khi vượt qua Trường Giang, quân khởi nghĩa hùng dũng tiến bước, liên tiếp giành được các vùng như Việt Châu (Thiệu Hưng, Triết Giang), Phúc Châu, sau đó lại chiếm lĩnh được trọng trấn Quảng Châu phía nam. Sau hai tháng chỉnh đốn ở Quảng Châu, Hoàng Sào đã cho công bố bài hịch thảo phạt Đường, trách cứ triều Đường để triều chính hỗn loạn, khiến cho dân chúng lầm than đói khổ. Còn tự xưng là “nghĩa quân”, dẫn quân tấn công lên phía bắc.

Do suốt dọc hành trình nhận được sự ủng hộ nhiệt liệt của dân chúng khắp nơi mà quân khởi nghĩa đã thuận lợi tiến từ Quế Châu lên phía bắc, không lâu sau đã chiếm lĩnh phần lớn khu vực phía nam, tiếp tục uy hiếp Quan Trung. Trên đường tiến quân, quân khởi nghĩa “đi theo đội ngũ, không cướp bóc nhân dân” nên rất được lòng dân, đi tới đâu cũng có người dân tới xin được đầu quân, khiến lực lượng của nghĩa quân ngày càng hùng hậu.

Nghĩa quân liên tiếp giành thắng lợi khiến các tướng lĩnh trấn giữ biên cương triều Đường hoảng sợ, nghĩa quân thừa thắng xông lên, công chiếm Lạc Dương. Cùng lúc này, Hoàng Sào gửi thư tới các tiết độ sứ phiên trấn quan trọng của triều Đường, nói rằng: “Lần này ta vào kinh sư là để hỏi tội hoàng đế, các ngươi không có liên quan gì thì đừng có nhúng tay vào”. Nhờ thế mà cuối năm đó quân khởi nghĩa đã công phá Đông Quan, mau chóng chiếm được Trường An.

Sau khi vào thành, Hoàng Sào lệnh cho tướng sĩ không được làm hại dân chúng, còn đích thân vô yên nạn dân, phân phát tiền của cho họ, quả thực đã mở cho người dân một viễn cảnh tươi sáng.

Năm 881, Hoàng Sào lên ngôi ở điện Hàm Nguyên triều Đường, lấy quốc hiệu là Đại Tề, niên hiệu là Kim Thống, dùng được quan viên nào của triều Đường thì giữ tại, song những quan từ tam phẩm trở lên đều giết chết. Ngoài ra, chính quyền Đại Tề còn thu hồi tài vật của các gia đình giàu có trong thành Trường An, lấy một phần trong đó dùng vào việc quân, một phần khác đem phân phát cho dân nghèo.

Năm sau, quân Đường quay trở lại, nhưng chỉ được vài ngày đã bị quân khởi nghĩa đánh bại. Do Hoàng Sào không thừa thắng xông lên tiêu diệt quân tàn dư của Đường Hy Tông, cũng không chia quân công phá các lực lượng cấm quân quan trọng trung thành với hoàng thất triều Đường được phân bố ở khắp Quan Trung, nền kinh tế lại chưa ổn định, bởi vậy đã khiến tương quan lực lượng giữa hai bên mau chóng đảo ngược. Tại các vùng núi do quân Đường kiểm soát, việc mua bán lương thực bị cản trở, khiến cho nghĩa quân làm vào tình cảnh thiếu thốn lương thực trầm trọng.

Năm 882, tướng lĩnh của quân khởi nghĩa tác chiến ở Đông Châu (Đại Lệ, Thiểm Tây) đầu hàng quân Đường, do Chu Ôn nắm đại quyền, khiến thế lực quân Đường ngày càng lớn mạnh. Chưa tới ba tháng sau, Hoàng Sào bao vây Trần Châu (Hoài Dương, Hà Nam) mãi mà chưa thể đánh hạ, gặp phải chống trả quyết liệt của Chu Ôn, bại trận chạy tới Lang Hổ cốc (Lai Vu, Sơn Đông), bị bộ tướng thuộc hạ giết chết. Cuộc khởi nghĩa nông dân kéo dài hơn 9 năm tới đây đã kết thúc.

Trải qua những biến cố thăng trầm, quốc vận của triều Đường đã tới hồi chấm dứt, đây chính là lịch sử được dự đoán ở tượng tiếp theo. Tượng thứ 10, Chu Ôn đoạt chính quyền từ tay nhà Đường…

Comment ngay nếu có gì thắc mắc về Quẻ Thuần Khảm để nhận giải đáp trực tiếp từ Ad nhé !!!

(Series bài viết Hướng dẫn tự học Kinh Dịch Tại chuyên mục Giáo Dục dành cho Newbie được viết bởi Phú Hà

Để trở về trang chủ mời quý khách Click Tại Đây)

13 BÌNH LUẬN

    • Phàm bói việc gặp quẻ Khảm, việc gì cũng nên hết sức bình tĩnh nhé bạn, sau này mình sẽ viết thêm về phần luận đoán theo lục hào, bạn chú ý theo dõi các bài viết của mình nhé, cảm ơn bạn đã quan tâm.

    • Cảm ơn bạn đã quan tâm bài viết về quẻ Khảm của mình, mình sẽ cố gắng xử lý xong toàn bộ 64 quẻ, bạn chú ý theo dõi nhé, có gì thắc mắc cứ comment tại đây nhé.

  1. Bài viết chất nhưng dài quá, ngoài phần viết lý thuyết về quẻ Khảm còn có mô hình áp dụng quẻ khảm trong thực tế, phần đó chính là lấy trong Thôi Bối Đồ ra đúng ko ad, ha ha 😀

  2. Khảm là hiểm là hãm, nên có tượng là bẫy rập, 2 cái bẫy rập chồng lên nhau là nguy rồi, em cũng tự học dịch, đang ngâm quẻ Sơn Thủy Mông, bác rảnh thì viết phần này cho em đọc với ạ, em cảm ơn bác nhiều nhé.

  3. Quẻ Khảm bác phân tích chi tiết quá, nhưng em muốn hỏi là khảm là thủy là hãm là nguy khốn, cơ mà thủy cũng chủ về tiền bạc, em nghĩ thuần Khảm cũng là tượng cơ hội có nhiều tiền, cơ hội phát tài mà???

  4. Thủy chủ tài, thủy cũng chủ hiểm hãm, xem ra ở đâu có tài lộc, ở đó có Tai Ương. Quẻ Thuần Khảm thủy từ đầu chí cuối, từ đầu đến đuôi, nguy hiểm trùng trùng, nhưng thắng thì thành công.

BÌNH LUẬN

Please enter your comment!
Please enter your name here