Ý nghĩa, giải quẻ Khuê, Hỏa Trạch Khuê – Quẻ dịch số 38

5
258
Quẻ Hỏa Trạch Khuê - Bói dịch số 38
Quẻ Hỏa Trạch Khuê - Bói dịch số 38

Quẻ Hỏa Trạch Khuê báo hiệu một thời kỳ gập ghềnh, khó khăn đang trải ra phía trước, mọi chờ đợi đều đưa bạn đến thất vọng.

Đại sự chớ nên, việc nhỏ thôi.

Chị em chí hướng lại chia phôi.

Dị đồng xu thế tan, tan hợp.

Tang mã hồi vong, vận số hồi.

Có thể bạn cần tham khảo thêm Quẻ Lôi Thủy Giải

Hoặc tham khảo thêm  Quẻ Lôi Phong Hằng

Giải nghĩa quẻ Khuê, Trạch Hỏa Khuê

Quẻ Trạch Hỏa Khuê, quẻ thượng là quẻ Ly, Ly là lửa là đèn, là tượng nhà trống. Quẻ hạ là quẻ Đoài, Đoài là hồ là đầm, Đoài còn là tượng là cái mui thuyền. Tóm lại, quẻ Trạch Hỏa Khuê có tượng là ánh lửa thuyền chài.

Theo Thuyết văn giảng tự, Khuê là nhìn thấy chướng mắt, đã chướng mắt thì phải mau chóng rời đi, nên Khuê có nghĩa là rời đi, là biệt li. Lửa thuyền chài hướng lên trên, tách biệt với nước. Thuyền chài phiêu bạt tứ xứ, phù hợp với nghĩa cổ của chữ Khuê.

Quái từ quẻ Khuê, Hỏa Trạch Khuê

Quái từ quẻ Hỏa Trạch Khuê viết: Khuê. Tiểu sự cát. (睽. 小 事 吉)

 Dịch nghĩa: Quẻ Hỏa Trạch Khuê tượng trưng cho biện chứng đối lập, (khi có sự tranh chấp đối kháng giữa hai bên như vậy) chỉ có thể thành tựu được việc nhỏ mà thôi.

Giải thích:

Trịnh Khang Thành giảng: Quẻ Hỏa Trạch Khuê, Khuê tức là đối lập nhau, lửa thì muốn bay lên, (nước) ao hồ thì muốn thấm xuống, cũng như con người đồng cư nhưng tâm ý khác nhau, nên gọi đó là Khuê (Khuê, quai đã, Hỏa dục thượng, trạch dục hạ, do nhân đồng cư nhi chí dị dã, cố vị chi Khuê). Trịnh Khang Thành giảng rất chính xác vì bản Bạch Thư Chu Dịch không chép “Khuê” 睽 mà chép Quai 乖 (ngang trái, đối kháng).

Ngu Phiên chú giảng: “Hai quẻ Ly Đoài tượng trưng cho hai thiếu nữ vậy” (nhị nữ Ly Đoài dã). Quách Dương giảng: “Tám quẻ Văn Vương lập ra, Ly là con gái giữa, Đoài là con gái út. Cả hai đều là tượng âm nhu, cho nên đối lập chứ không tương ứng. Đoài ở dưới, Ly ở trên, Ly là tượng (nhật nguyệt) dính bám vào trời, Đoài là hồ nước ở dưới, tượng trưng cho khả năng dung hòa. Lấy nhu tiến lên phía trên, đến hào Lục Ngũ đắc vị, trên ứng với hào Thượng Cửu, nên mới gọi là “đắc trung ứng cương”. Lại thêm hào Âm Lục Ngũ chiếm vị trí hào Cửu Ngũ, là bề tôi mà chiếm vị vua, cũng tương ứng với hào Cửu Nhị, là vua phải ứng theo bề tôi, cho nên chỉ thành tựu được việc nhỏ”

(Văn Vương bát quát, Ly vi trung nữ, Đoài vi thiếu nữ, giai vi âm tượng, cố tương khuê nhi bất tương ứng. Đoài tại hạ, Ly tại thượng, Ly giả, lệ vu thiên chi tượng, Đoài, trạch tại hạ năng dung chi tượng. Dĩ nhu nhi thượng tiến, chí lục ngũ đắc vị, thượng ứng thượng cửu, cố xưng vi đắc trung ứng cương. Hựn nhân âm hào lục ngũ chiếm cửu ngũ chi vị vi thần chiếm quân vị, dữ cửu nhị tương ứng, vi quân ứng vu thần, chỉ năng thành tựu tiểu sự).

Wilhelm giảng: Quẻ Trạch Hỏa Khuê gồm có quẻ Ly ở trên, tượng trưng cho lửa bốc lên cao, và quẻ Đoài ở dưới, tượng trưng cho hồ nước ngấm sâu xuống dưới. Hai chuyển động này hoàn toàn trái ngược nhau. Hơn nữa Ly là con gái thứ hai còn Đoài là con gái út, mặc dù họ sống chung nhà nhưng họ thuộc về những người chồng khác nhau, như vậy ý chí của họ không giống nhau mà đi theo hai hướng khác nhau.

Có lẽ Wilhelm cũng tham khảo Trịnh Khang Thành nên dịch quẻ Khuê là “ Đối Lập”.

Về vấn đề biểu hiện các phương diện đối lập nhau trong quẻ Trạch Hỏa Khuê các nhà chú giải nêu lên những đặc điểm như sau:

  • Vương Túc nói đên “thiên địa khuê” 天 地 睽 (đất trời đối lập) Ông viết: Cao ty tuy dị, đồng dục vạn vật  (Trời đất tuy khác, nhưng đều nuôi dưỡng vạn vật)…
  • Hầu Quả nói đến nam nữ khuê” 男 女 睽 (nam nữ đối lập). Ông viết “Xuất xử tuy thù, tình thông ý hợp ”(Nam bổn phận bên ngoài, nữ lo tề gia nội trợ, hai bên tuy khác nhau, nhưng tâm đầu ý hợp).
  • Thôi Cảnh nói đến “vạn vật Khuê ” 萬 物 睽 (vạn vật đối lập). Ông viết: “Vạn vật tuy khuê vu hình sắc, nhi sinh sự loại, ngôn diệc đồng dã”. (vạn vật tuy hình thái đa dạng khác nhau nhưng nói về chuyện sinh hóa và bản chất thì cũng giống như vậy).

Cũng nên nói thêm Bùi Văn Nguyên cho rằng quẻ Hỏa Trạch Khuê cũng nói đến hiện tượng đồng tính luyến ái: “Thật là kỳ điệu từ khoảng chục nghìn năm tổ Phục Hy các cộng đồng Bách Việt chúng ta đã tiên đoán được hiện tượng đồng tính luyến ái trong xã hội con người hiện nay” (Kinh Dịch Phục Hy. tr 402). Đây là một kiến giải vừa sai vừa vô căn cứ. Thứ nhất, không phải đến bây giờ mới có hiện tượng đồng tính luyến ái, đó là chuyện xưa như trái đất, nhưng đến bây giờ mới được chú ý nghiên cứu mà thôi. Thứ hai, trọn quẻ Hỏa Trạch Khuê chẳng có chỗ nào bàn xa, bàn gần gì đến chuyện đồng tính luyến ái cả.

( Vấn đề đồng tính luyến ái đúng là có từ thời cổ đại, mọi người có thể Search cụm từ ” Đồng tính luyến ái thời cổ đại” để tham khảo thêm nhé.)

Đại tượng quẻ Khuê, Hỏa Trạch Khuê

Quẻ Hỏa Trạch Khuê - Trên lửa dưới đầm
Quẻ Hỏa Trạch Khuê – Trên lửa dưới đầm

Lời Tượng quẻ Hỏa Trạch Khuê viết:

Tượng viết: Thượng hỏa hạ trạch.  Khuê. Quân tử dĩ đồng nhi dị. (象 曰. 上 火 下 澤. 睽. 君 子 以 同 而 異)

Dịch nghĩa: Bên trên là hỏa, bên dưới là ao hồ, tượng trưng sự đối kháng. Người quân tử nhân đó mưu cầu đại đồng cùng song song tồn tại với tiểu dị.

Giải thích lời Tượng quẻ Hỏa Trạch Khuê:

Trình Di lấy câu “hòa nhi bất lưu” 和而不流, trong Lễ Ký Trung Dung để giải thích nguyên tắc “đồng nhi dị” 同 而 異 : Ở trong chỗ giống chung mà vẫn thấy được những cái khác riêng vậy” (Ư đại đồng chi trung, nhi tri sở đương dị dã ).

Lý Trung Chính trong Thái Hiên dịch truyện giảng: Lời thoán nói “dị nhi đồng” là để tựu thành công năng hóa giải được tính chất đối kháng, còn lời tượng nói “đồng nhi dị” là để làm sáng nguyên lý hoạt dụng trong sự đối lập” (Thoán viết “dị nhi đồng” sở dĩ thành tế khuê chi công, Tượng viết: “đồng nhi dị” sở dĩ minh dụng khuê chi lý).

Đó chính là biện chứng hai mặt của sự đối lập: “đồng nhi dị” 同 而 異 là “tuy giống mà khác” nhấn mạnh phương diện đối kháng, nhấn mạnh tính chất cá biệt, nhưng cũng cần được bổ sung bởi nguyên tắc “dị nhi đồng” 異 而 同  (tuy khác mà giống), nhấn mạnh phương diện hài hòa, đại đồng, tập thể xã hội, giống như biện chứng “cái chung và cái riêng” trong triết học phương Tây vậy.

Trương Thiện Văn và Hoàng Thọ Kỳ dịch câu “quân từ dĩ đồng nhi dị” 君 子 以 同 而 異 như sau: “Người quân tử nhân đó mưu cầu đại đồng cùng song song tồn tại với tiểu dị” (quân tử nhân thử mưu cầu đại đồng tịnh tồn tiểu dị).

Hai nhà dịch học này đã nắm được phần tinh yếu sâu xa trong tư tưởng Nho giáo, vì lời Tượng quẻ Hỏa Trạch Khuê phản ánh trung thành những cốt lõi nền tảng xây dựng tòa nhà Nho giáo.

Quẻ Hỏa Trạch Khuê Hào 1 – Hào Sơ Cửu

Lời hào Sơ Cửu quẻ Hỏa Trạch Khuê viết:

Hối vong. Táng mã vật trục. Tự phục. Kiến ác nhân. Vô cữu. (悔 亡. 喪 馬 勿 逐  . 自 復  . 見 惡 人  . 無 咎)

Dịch nghĩa: Hào Sơ Cửu quẻ Hỏa Trạch Khuê là hào Dương: Khốn ách sắp qua rồi, ngựa chạy mất cũng không cần truy cứu, nó sẽ tự quay về, gặp gỡ người xấu cũng không có tai họa gì.

Quẻ Hỏa Trạch Khuê - Hào Sơ Cửu
Quẻ Hỏa Trạch Khuê – Hào Sơ Cửu

Giải thích:

Bản Bạch Thư Chu Dịch chép “hối vong, vong mã vật toại, tự phục, kiến á nhân, vô cữu”. Trương Lập Văn dịch trọn hào Sơ Cửu quẻ Hỏa Trạch Khuê trên là: “Khốn ách sắp qua rồi, ngựa chạy mất cũng không cần truy cứu, nó sẽ tự quay về, gặp gỡ người xấu, cũng không có tai họa gì” (khốn ách tương yếu quá khứ, tấu thất đích mã vật yếu truy cứu, mã tương tự phản, ngộ kiến ác nhân, diệc vô tai hoạn).

Cao Hanh giảng thêm “ác nhân” 惡 人 đây ám chỉ bọn đạo tặc và cho đây là một quẻ tốt.

Từ Tử Hùng dịch: “Không cần phải hối hận, mất ngựa không cần phải đi tìm, nó sẽ biết tự quay về, trên đường gặp người xấu cũng không có tai họa g ” (bất tất hối hận, đâu thất liễu mã thất, bất tất tầm trảo, tha tự hội hồi lai, đồ trung bính kiến hoại nhân, dã bất hội hữu tai họa).

Hiếm khi trong Kinh Dịch mà gặp được một câu hầu hết mọi người đều dịch giống nhau như thế này. Ngay cả kiện tướng khảo chứng học như Cao Hanh và Lý Kính Trì cũng không nói thêm được gì khác.

Quẻ Hỏa Trạch Khuê Hào 2 – Hào Cửu Nhị

Hào Cửu Nhị quẻ Hỏa Trạch Khuê viết: Ngộ chủ vu hạng. Vô cữu. (遇 主 于 巷. 無 咎)

Dịch nghĩa: Hào Cửu Nhị quẻ Hỏa Trạch Khuê là hào Dương, có ý nghĩa là không hẹn mà gặp chủ nhân trong ngõ hẻm,(chia ly bây lâu nay được sum hợp) nên không có lầm lỗi gì.

Quẻ Hỏa Trạch Khuê - Hào Cửu Nhị
Quẻ Hỏa Trạch Khuê – Hào Cửu Nhị

Giải thích:

Hạng” 巷 là “ngõ hẻm” (đại đạo đích kính 大 道 的 徑) . Trương Thiện Văn và Hoàng Thọ Kỳ giảng: “Chủ nhân đây chỉ hào Lục Ngũ, vì cư tôn vị ứng với hào Cửu Nhị nên mới gọi như vậy. Đây nói hào Cửu Nhị đang ở vào thời kỳ “đối kháng”, thất vị không yên ổn, gốc là có hại, nhưng Dương cư Âm vị, khiêm tốn thuận thời, lại thêm biết cư xử theo trung đạo nên cuối cùng có thể không hẹn mà gặp với hào Lục Ngũ mà mình muốn tương ứng trong ngõ hẻm, chia ly bấy lâu nay được sum hợp, nên không có lầm lỗi gì” (chủ chỉ lục ngũ, nhân cư tôn ứng nhị cố xưng. Thử ngôn cửu nhị đương khuê chi thời, thất vị bất an, bản hữu cữu hại, đán dương cư âm vị, thủ khiêm thuận thời, hựu xử trung đạo, chung năng ư bất kỳ nhiên gian dữ sở ứng chi lục ngũ ngộ ư hạng đạo, “khuê vi” toại hợp, cố hoạch vô cữu).

Từ Tử Hùng dịch hào Cửu Nhị quẻ Hỏa Trạch Khuê như sau: Gặp được người chủ nhà nhiệt tình hiếu khách, không có tai nạn gì (Ngộ trước liễu nhiệt tình hiếu khách đích chủ nhân, một hữu tai nạn). Nhà Dịch học này không nói đến chữ “ngõ hẻm”. Hay ông cho rằng “hạng” 巷 có nghĩa là “nhiệt tình hiếu khách chăng ?

Quẻ Hỏa Trạch Khuê Hào 3 – Hào Lục Tam

Lời hào Lục Tam quẻ Hỏa Trạch Khuê viết:

Kiến dư duệ. Kỳ ngưu xiết. Kỳ nhân thiên thả tỵ. Vô sơ hữu chung. (見 輿 曳. 其 牛 掣. 其 人 天 且 劓. 無 初 有 終)

Dịch nghĩa: Hào Âm Lục Nhị quẻ Hỏa Trạch Khuê có nghĩa là: Nhìn cái xe bị trì kéo không tiến lên được, con bò kéo xe thì bị người nắm kéo ngược lại, lại nhìn thấy bọn người (nô lệ hay giặc bị bắt) bị thích chữ lên trán và bị hình phạt xẻo mũi, chuyện gì cũng có nguyên nhân rồi mới ra hậu quả như vậy.

Quẻ Hỏa Trạch Khuê - Hào Lục Tam
Quẻ Hỏa Trạch Khuê – Hào Lục Tam

Giải thích:

Bản Bạch Thư Chu Dịch chép là kiến xa kiết” 見 車 恝. “Dư” 輿 và “xa” 車 đồng nghĩa. “Kiết” (âm Bắc Kinh hiện đại là /jiá/) 恝 và “duệ” 曳 dùng thông nhau. “Duệ” 曳 (âm Bắc Kinh hiện đại là /yè/). Nhất thiết kinh âm nghĩa (quyển 15) giảng “duệ” 曳 là “dẫn” 引 (kéo).

Kiến xa duệ” 見 車 曳 Trương Lập Văn giảng là “người đánh xe hướng về phía sau lôi kéo thêm một chiếc xe bò nữa” (ngự giả hướng hậu khiên dẫn ngưu xa dã).

Trong Bạch Thư Chu Dịch do Vu Hào Lượng biên tập, ông nghi “kiết” 恝 là giả tá của “chiết” 折 (bẻ gãy).

Ngô Trừng giảng: “Duệ là đi phía sau kéo lại, nên xe không thể tiến được. Xiết là dùng tay khống chế khiến bỏ không thể tiến được” (duệ vị tòng hậu đà duệ chi, nhi xa bất năng tiến hành. Xiết vị dĩ thủ khống chế chi, nhi ngưu bất năng tiến hành).
“Xiết” 掣 (âm Bắc Kinh hiện đại là /che`/) Trương Thiện Văn và Hoàng Thọ Kỳ giảng là “khống chế” (khiên chế 牽 制).

“Thiên” 天 Kinh điển thích văn giảng là “kinh” 京 (một loại hình phạt thích chữ lên trán). Hán Ngữ Đại tự điển giảng “thiên” 天 là “một loại hình phạt cổ đại thích chữ lên trán” (cổ đại nhất chủng tại ngạch đầu thượng thích tự đích hình phạt )Trương Thiện Văn Và Hoàng Thọ Kỳ giảng “thiên”天 là một hình phạt cắt tóc ngày xưa (cổ đại khôn phát chi hình tức thế tước tội nhân chi khôn phát).

Bùi Văn Nguyên thì giảng giống như Trương Thiện Văn và Hoàng Thọ Kỳ và chê Nguyễn Hiến Lê giảng sai chữ “thiên” 天 , nhưng Nguyễn Hiến Lê giảng đúng như trong Hán Ngũ Đại tự điển. “

“Tỵ” 劓 (âm Bắc Kinh hiện đại ià /yì/) là hình phạt cắt mũi thời xưa (cổ đại cát tỵ chi hình). Trương Thiện Văn và Hoàng Thọ Kỳ dịch trọn hào Lục Tam quẻ Hỏa Trạch Khuê như sau: “Tựa hồ như nhìn thấy cỗ xe lớn bị kéo lại rất khó đi, con bò kéo xe bị khống chế không tiến lên được, lại hốt hoảng như thân mình bị hình phạt tàn khốc là gọt tóc cắt mũi. Lúc đầu là ngang trái chia ly, cuối cùng sẽ vui vẻ sum họp” (tự hồ khán kiến đại xa bị đà duệ nan hành, giá xa đích ngưu thụ khiên chế bất tiến, hựu hoảng như tự kỷ thân tao tước phát tiệt tỵ đích khốc hình. Khởi sơ quai khuê, chung tương hoan hợp) (nghĩa đen là “không có cái mở đầu mà có cái chung cuộc”) mà diễn thành ý “khởi sơ quai khuê, chung tương hoan hợp” (lúc đầu chia ly về sau sẽ sum họp) thì thật quá khiên cưỡng.

Từ Tử Hùng giảng “vô sơ hữu chung” 無 初 有 終 trong ngữ cảnh này chỉ việc “lúc đầu xe bò sa xuống hố không sao nhúc nhích, sau kéo ra khỏi hố mới đi được” (khởi sơ xa tử hãm trước bất động, hậu lai chung vu la động liễu ). Đây cũng là một cách suy diễn.

Trương Lập Văn dịch: “Người đánh xe bò rất lo lắng, xe bò xuất hành nên gây chướng ngại không đầu tiến lên được, người đó sắp bị hình phạt thích chữ lên trán và cắt mũi, lúc đầu nếu không xảy ra những sự cố như thế này, thì không có được kết quả như vậy” (Ngự ngưu xa đích xa phu ngận ưu lự, ngưu xa xuất cố chướng nhi khiên dẫn bất tiền, kỳ nhân tương yếu thụ kinh ngạch hòa cát tỵ đích hình phạt. Khai thủy bất phát sinh giá thử sự cố, tựu bất hội hữu giá dạng đích kết quả).

Quẻ Hỏa Trạch Khuê Hào 4 – Hào Cửu Tứ

Hào Cửu Tứ quẻ Hỏa Trạch Khuê viết:

Khuê cô. Ngộ nguyên phu. Giao phu. Lệ. Vô cữu. (睽 孤. 遇 元 夫. 交 孚. 厲. 無 咎)

Dịch nghĩa: Hào Cửu Tứ quẻ Hỏa Trạch Khuê là hào Dương có nghĩa là: (Đang) bơ vơ trơ trọi một mình (trên đường đi), (tình cờ) gặp được một đại nhân (cùng đồng hành với mình, (không ngờ) cả hai bị bắt làm nô lệ, (tuy) nguy hiểm (lúc đầu) (nhưng về sau có thể thoát được), không bị tai họa gì.

Quẻ Hỏa Trạch Khuê - Hào Cửu Tứ
Quẻ Hỏa Trạch Khuê – Hào Cửu Tứ

Giải thích:

“Khuê Cô” 睽 孤 Sa Thiếu Hải giảng là “người lữ hành Cô đơn trên đường” (khuê cô, do ngôn lữ nhân cô đơn địa tẩu lộ). Cao Hanh căn cứ trên Tự Quái Truyện và Tạp Quái Truyện giảng “khuê” 睽 là “chia ly ở bên ngoài, xa xôi không gặp nhau” (quai ly tại ngoại, viễn bất tương kiến) và “khuê cô” 睽 孤 là “người cô đơn gặp nạn bên ngoài” (tao nạn tại ngoại chi cô tử).

Lễ Ký định nghĩa “cô” 孤 là “mồ côi cha lúc nhỏ” (thiếu nhi vô phụ giả vị chi cô). Hoài Nam Tử (thiên Tu Vụ Huấn) có câu: “Dĩ dưỡng cô sương”. Cao Dụ chú “cô” là “mồ côi cha lúc nhỏ” (ấu vô phụ viết cô). Lý Đỉnh Tộ dẫn Ngu Phiên giảng “cô” là “quay đầu nhìn lại” (cô, cố dã).

Về chữ “nguyên phu”元 夫 Khổng Dĩnh Đạt giảng “phu” 夫 đây là “phu” trong cụm từ “trượng phu” 丈 夫 , không phải “phu” trong “phu phụ” 夫 婦 (cái thị trượng phu chi phu, phi phu phụ chi phu).

Lai Tri Đức giảng “nguyên” 元 là “đại nhân” còn “phu” 孚 là “tin” .Quách Dương giảng “khuê cô, ngộ nguyên phu” 睽 孤 遇 元 夫 là “người vợ bị bỏ rơi gặp lại chồng cũ” (khí phụ dữ nguyên phu tương ngộ). Văn Nhất Đa thì cho rằng chữ “nguyên” 元 là chép lầm chữ “ngột” 兀 là “ngột phu” có nghĩa “một người chân thọt” (bả tử 跛 子).

Trương Lập Văn và Từ Tử Hùng cũng giảng tương tự. Từ Tử Hùng giảng “phu” 孚 tức là “phu” 俘 dùng như động từ nghĩa là “bị bắt” (bị trảo). Từ Tử Hùng dịch trọn hào Cửu Tứ quẻ Hỏa Trạch Khuê như sau: “Lữ khách đang cô đơn trên đường, gặp phải một người thọt, cả hai đều bị bắt, tình thế nguy cấp, nhưng sau cũng không có tai họa gì” (Lữ nhân cô đơn địa hành lộ, ngộ thượng nhất cá bả tử, nhất đồng bị trào trụ, tình hình nguy hiểm, đán chung vô tai họa).

Trương Thiện Văn và Hoàng Thọ Kỳ dịch: “Phân ly chia lìa, lẻ loi trơ trọi, được gặp một đấng trượng phu oai phong hùng dũng, cũng giao kết thành tín, tuy có nguy hìểm nhưng có thể tránh được tai hại” (quai bối khuê vi, kiết nhiên cô lập, ngộ hợp dương cương trượng phu, giao tương thành tín, tuy hữu nguy hiểm khước năng miễn tao cữu hại).

Wilhelm dịch: “Bị cô lập do đối kháng, gặp được người đồng chí hướng, có thể giao kết trong sự thành tín, mặc dù nguy hiểm, cũng không có lỗi”.

Nói chung, Wilhelm cùng Trương Thiện Văn và Hoàng Thọ Kỳ dịch theo nghĩa bóng, các nhà khảo chứng học như Cao Hanh, TừTử Hùng, Trương Lập Văn, Lý Kính Trì dịch sát theo nghĩa gốc, nhưng trong trường hợp này, sai biệt không lớn lắm.

Quẻ Hỏa Trạch Khuê Hào 5 – Hào Lục Ngũ

Lời hào Lục Ngũ quẻ Hỏa Trạch Khuê viết:

Hối vong. Quyết tông phệ phu. Vãng hà cữu. (悔 亡. 厥 宗 噬 膚. 往 何 咎)

Dịch nghĩa: Hào Lục Ngũ quẻ Hỏa Trạch Khuê là hào âm: Hối tiếc đã qua rồi, (hãy) đến tông miếu mà hưởng rượu thịt (sau khi cúng), có đi thì cũng đâu có gì sai trái?

Quẻ Hỏa Trạch Khuê - Hào Lục Ngũ
Quẻ Hỏa Trạch Khuê – Hào Lục Ngũ

Giải thích:

Bản Bạch Thư Chu Dịch chép “hối vong, đăng tông phệ phu, vãng hà cữu” 悔 亡. 豋 宗 噬 膚. 往 何 咎. Các bản hiện hành đều chép “quyết tông phệ phu” 厥 宗 噬 膚. “Đăng” 豋j có nghĩa là “lên cao’ ’(đăng, thăng dã). Chúng tôi dịch theo bản này.

Quảng Nhã Thích hỗ giảng“phệ” 噬 là “cắn” (phệ, khiết dã). Khổng Dĩnh Đạt giảng tương tự. “Phu” 膚 Quảng Nhã Thích khí giảng là “thịt” (phu, nhục dã). Nghi Lễ (thiên Sinh Lễ) giảng “phu” là “thịt cá tươi” (phu tiên ngư tiên lạp) . Quách Huyền chú giảng “phu” 膚 là “thịt heo” (phu, thỉ nhục dã) .

“Phệ phu” 噬 膚 Trương Lập Văn giảng là “ăn thịt” (phệ phu vị ngật nhục dã).

“Tông”宗 Thuyết văn giải tự giảng là “miếu thờ tổ tiên” (tông, tôn tổ miếu dã).

“Quyết” 厥 Sa Thiếu Hải giảng là “đồng” 同 , thể hiện mối quan hệ thuộc về (quyết, đồng kỳ, biểu lãnh thuộc quan hệ).

“Quyết tông” 厥 宗 Từ Tử Hùng giảng là “cùng đi với người đồng gia tộc” (cân lữ nhân đồng tộc đích tông nhân). Ông địch trọn hào Lục Ngũ quẻ Hỏa Trạch Khuê là: Không có hối hận, mắt liếc người đồng gia tộc đang ăn thịt, người lữ khách cô đơn vui vẻ kết bạn đồng hành, thượng lộ bình an vô sự. (Một hữu hối hận. Tiều kiến đồng tộc tông nhân tại ngật nhục, cô đơn đích lữ nhân hân nhiên kết bạn đồng hành, nhất lộ bình an vô sự).

Trương Lập Văn căn cứ theo bản Bạch Thư Chu Dịch dịch: “Khốn ách đã trừ khử xong, lên tông miếu ăn thịt, tiến về phía trước không có lo lắng về tai nạn” (khốn ách trừ khử, đăng tông miếu ngật nhục, tiền vãng một hữu tai hoạn).

Trương Thiện Văn và Hoàng Thọ Kỳ cung cấp một bản dịch hào Lục Ngũ quẻ Hỏa Trạch Khuê đầy màu sắc, âm thanh… ăn nhậu như sau: “Hối hận đã hết, những người cùng trong gia tộc thân cận giống như mút cắn thịt da mềm đòn, cứ tiến tới thì có gì hại?” (Hối hận tiêu vong, tha tương ứng đích tông thân giả (tượng) duyện phệ nhu thúy bì phu, tiền vãng hữu hà cữu hại?)

Wilhelm dịch: “Hối hận tiêu tan. Người bạn đồng hành cắn đứt xuyên qua vỏ bọc bên ngoài. Nếu đến với anh ta thì sao lại có thể là sai lầm được ?”.

Quẻ Hỏa Trạch Khuê Hào 6 – Hào Thượng Cửu

Lời hào Thượng Cửu quẻ Hỏa Trạch Khuê viết:

Khuê cô. Kiến thỉ phụ đồ. Tải quỷ nhất xa. Tiên trương chi hồ. Hậu thoát chi hồ. Phỉ khấu hôn cấu. Vãng ngộ vũ tắc cát.
(睽 孤. 見 豕 負 涂. 載 鬼 一 車. 先 張 之 弧. 后 說 之 弧. 匪 寇 婚  媾. 往 遇 雨 則 吉)

Dịch nghĩa: Hào Thượng Cửu quẻ Hỏa Trạch Khuê là hào Dương: Lữ khách cô đơn đang đi trên đường, chợt thấy (ai giống như) con heo đứng bên đường, lại thêm một xe chở đầy bọn người trang phục kỳ quái, ( vội) giương cung tính bắn, vì tưởng là bọn cường đạo, (nhưng khi nhìn kỹ lại) hóa ra chúng là bọn người đến đón dâu về, nên hạ ngay cung tên xuống. Vào lúc này tiến hành rước dâu mà gặp được cơn mưa thì rất tốt ( vì mưa tượng trưng cho âm dương hòa hợp nghĩa là mưa trên trời, tượng trưng cho Dương, năng lực sáng tạo, rơi thấm xuống đất, tượng trưng cho Âm, năng lực bảo tồn và nuôi dưỡng).

Quẻ Hỏa Trạch Khuê - Hào Thượng Cửu
Quẻ Hỏa Trạch Khuê – Hào Thượng Cửu

Giải thích:

“Quỷ” 鬼 hay “thỉ” 豕 Trương Thiện Văn và Hoàng Thọ Kỳ giảng là tượng trưng cho việc hào Thượng Cửu nhìn lầm hào Lục Tam biến thành hình thù kỳ dị (thượng cửu sai nghi lục tam dĩ biến hóa vi xú hình) “Kiến thỉ phụ đồ” 見 豕 負 涂 là “thấy heo đội bùn”. Nghĩa này nghe rất kỳ quặc nhưng hầu hết các nhà chú giải đều giải thích như vậy. Tại sao không nghĩ rằng “đồ” (bùn) 涂 đây chỉ là giả tá cận âm của “đồ”途 là “đường” còn “phụ” 負 (đội) là giả tá cận âm của “phục” 伏 (đứng núp)? Như vậy ta có một câu hợp lý hơn: “kiến thì phục đồ”見 豕 伏 途 (thấy heo đứng bên đường).

“Tải quỷ nhất xa” 載 鬼 一 車 là “chở qủy một xe”. “Hồ” 弧 Thuyêt văn giải tự giảng là cung bằng gỗ” (hồ, mộc cung dã).

“Thoát” 說 Nhĩ Nhã Thích hỗ giảng là “buông ra” (thoát, xả dã). Bản Bạch Thư Chu Dịch chép “hồ”’ 壺.

Trong Nghi lễ (thiên Sính Lễ) có câu: “Bát hồ thiết vu tây tự”, Trịnh Huyền chú giảng “hồ”壺 là “ly uống rượu” (hồ, tửu tôn dã).

Trong Công Dưong Truyện (Chiêu Công năm thứ 25) có câu: “Quân tử chấp hồ tương”. Trịnh Huyền chú giải: “Hồ là lễ khí, bụng vuông miệng tròn” (Hồ, lễ khí, phúc phương khẩu viên viết hồ). Trong hôn lễ cổ đại dùng “hồ” 壺,một thứ lễ khí, làm ly uống rượu.

“Tiên trương chi hồ, hậu thoát chi hồ” 先 張 之 弧. 后 說 之 弧 Trương Thiện Văn và Hoàng Thọ Kỳ giảng là “thoạt tiên giương cung muốn bắn, sau đó hạ cung tên xuống” (tiên thị trương cung dục xạ, hậu hựu phóng hạ cung thỉ).

Trương Lập Văn cho rằng câu đầu “tiên trương chi hồ ” 先 張 之 弧 thì đúng là “ban đầu giương cung muốn bắn ” nhưng cụm từ sau “hậu thoát chi hồ” 后 說 之 弧 thì ông cho rằng “thoát” 說 tức là “duyệt” 悅 (vui vẻ) và “hồ” 壺 là ly uống rượu trong dịp hôn lễ” nên ông dich “hậu thoát chi hồ” 后 說 之 壺 là vui vẻ tiến hành hôn lễ (hỷ duyệt nhi hành hôn lễ).

Bạch Thư Chu Dịch chép là “tiên trương chi cô” , chữ Cô bên trái là bộ mộc bên phải là chữ Qua. Khang Hy tự điển phiên là “cổ hồ thiết, âm cô“ dùng thông với chữ Hồ 弧.

Từ Tử Hùng dịch trọn hào Cửu Thượng quẻ Hỏa Trạch Khuê như sau: “Lữ khách cô đơn đang đi, trông thấy một con heo lớn đứng phục trên đường, lại gặp một chiếc xe lớn, trên xe chở đầy những người trang sức hình thù quái đản, lữ khách giương cung muốn bắn, nhưng sau đó hạ cung tên xuống, do nhận ra bọn người đó không phải quân cường đạo, mà chính là bọn người đến xin kết hôn. Lữ khách tiếp tục đi về phía trước, gặp một cơn mưa lớn, nhưng mọi sự đều bình an” (Lữ nhân cô đơn địa hành lộ, kiến nhất đầu đại trư phục tại lộ thượng, hựu ngộ thượng nhất lưỡng đại xa, thượng diện mãn tái đả ban đắc kỳ hình quái trạng đích nhân. Lữ nhân đáp cung dục xạ, hậu lai hựu phóng hạ cung tiễn. Nhân vi giá hỏa nhân bất thị cường đạo, nhi thị khứ đính hôn đích. Lữ nhân chiếu thường hành tiến, ngộ thượng đại vũ, đán nhất thiết bình an).

Trương Thiện Văn và Hoàng Thọ Kỳ dịch: “Chia ly ngang trái đã đến cùng cực, cô độc hồ nghi, tâm thần hốt hoảng như nhìn thấy con heo xấu xí lưng đẫm đầy bùn dơ, lại thấy một xe lớn chở đầy quỷ quái đang chạy, thoạt tiên giương cung muốn bắn, sau hạ cung tháo tên, nguyên lai đó chẳng phải là giặc cướp, mà là người hôn phối với mình, thời này mà tiến lên, gặp phải cơn mưa ngọt ngào âm dương hòa hợp thì có được may mắn” (khuê vi chí cực, cô độc hồ nghi, hoảng như khán kiến xú trư bối phụ ô nê, hựu kiến nhất lưỡng đại xa mãn đái quỷ quái tại bôn trì, tiên thị trương cung dục xạ, hậu hựu phóng hạ cung thỉ. Nguyên lai tịnh phi cường khấu, nhi thị dữ kỷ hôn phối đích giai lệ, thử thời tiền vãng, ngộ đáo âm dương hòa hợp đích cam vũ tựu năng hoạch đắc cát tường).

Wilhelm dịch: “Bị cô lập do chống đối, trông thấy người bạn đồng hành như con heo đẫm đầy bùn, như chuyến xe chở đầy quỷ, trước tiên giương cung tính bắn, sau bỏ cung qua một bên. Anh ta không phải ăn cướp, anh ta đến cầu hôn đúng lúc. Khi đi có mưa rơi, may mắn sẽ đến” `
Như vậy hào Cửu Thượng quẻ Hỏa Trạch Khuê xoay quanh chủ đề hiểu lầm hay ngộ nhận nhưng cuối cùng mọi sự đều được hóa giải. Chuyện xấu hóa thành chuyện tốt. Có thể đây là một châm ngôn chính trị khuyên răn các vua chúa không nên xét người qua bề ngoài.

Tổng Luận quẻ Hỏa Trạch Khuê

Trương Thiện Văn và Hoàng Thọ Kỳ tổng luận về quẻ Hỏa Trạch Khuê như sau: Nói chung, tình người và vật lý thích hợp không thích lìa, ưa tụ không ưa tán.

Cổ Thi 19 bài, có mấy câu:

“Hành hành trùng hành hành, dữ quân sinh biệt ly

tương khứ vạn dư lý, các tại thiên nhất nhai

Dịch nghĩa:

Chàng đi lại ra đi, thiếp cùng chàng biệt ly

Cách nhau hơn vạn lý, mỗi kẻ một phương trời

Đó là sự phản ánh qua nghệ thuật thi ca khá tiêu biểu về sự đau thương chia lìa. Quẻ Hỏa Trạch Khuê lấy tên với ý nghĩa “chia ly”, nhưng lại nêu rõ lý lẽ làm sao biến khuê 睽 (trái ngược, chia ly) thành họp 合 (sum họp).

Quái Tử nói “Khuê, tiểu sự cát”, tức là nêu rõ sự vật tuy khuê, nhưng ắt cũng có chỗ tương đồng, tương hợp; dùng phương pháp nhu hoà và thuận theo tình thế thì trái ngược sẽ hết, chia ly sẽ được sum vầy. Tuy hào nào trong quẻ cũng ở thời khuê nhưng chưa hề có hào nào khuê lâu mà không hợp.

Phùng Đương Khả nói: Nội quái đều là khuê mà có chỗ chờ đợi, ngoại quái đều là phản mà có chỗ ứng. Hào Sơ thì “táng mã vật trục” đến hào Tứ thì “ngộ nguyên phu” nhưng hào Sơ và hào Tứ hợp. Hào Nhị thì “ngộ chủ vu hạng” đến hào Ngũ thì “vãng hà cữu”, nhưng hào Nhị và hào Ngũ hợp. Hào Tam thì “dư huệ” và “ngưu xiết” đến hào Thượng thì “ngộ vũ”, nhưng hào Tam và hào Thượng hợp. Cái lý của thiên hạ chưa từng có sự chia ly vĩnh viễn.

Có thể thấy, các hào đều nói đến đạo cẩn trọng và mềm mỏng để được sum hop. Chu Dịch Chiết Trung gọi đó là “mềm mỏng tiến vào sẽ dễ thông” (uỷ khúc tốn nhập tắc dị thông dã).

Từ nghĩa lý của các hào mà xét, ta thấy rõ các tác giả của Chu Dịch có nhận thức về quan hệ biện chứng giữa đồng 同 và dị 異, giữa khuê 睽 và hợp 合.

Thoán Truyện khen: Thiên địa khuê nhi kỳ sự đồng dã, nam nữ khuê nhi kỳ chí thông dã, vạn vật khuê nhi kỳ sự loại dã” ( Trời đất trái nghịch chia ly mà phận sự sinh hoá vạn vật thì giống nhau, nam nữ trái ngược Âm Dương nhưng ý nguyện phối hợp thì như nhau, vạn vật trái ngược tách biệt nhưng phận sự của chúng giống nhau theo từng loại), chính là phát huy ý nghĩa đó. Cho đến ý “Cầu đại đồng tồn tiểu dị”. (mong đại đồng thì giữ dị biệt nhỏ) của Đại Tượng Truyện thì nó đã phát huy cụ thể khái niệm trừu tượng “tiểu tâm xử khuê” (Cẩn thận xử khuê) khiến nhân tố triết học đối lập thống nhất hàm chứa trong quẻ Hỏa Trạch Khuê được hiển lộ sắc thái của nó.

Quẻ Hỏa Trạch Khuê với Thôi Bối Đồ Tượng 21

Quẻ Hỏa Trạch Khuê ứng với Sự biến Tĩnh Khang khiến 2 vị hoàng đế Tống Huy Tông và Tống Khâm Tông đều bị bắt làm tù binh, đặt dấu chấm hết cho sự thống trị của triều Bắc Tống.

Sự biến Tĩnh Khang với quẻ Hỏa Trạch Khuê
Sự biến Tĩnh Khang với quẻ Hỏa Trạch Khuê

Sấm viết:

Quyết không cung trung, Tuyết thâm tam xích.

Hu ta nguyên thủ, Nam viên bắc triệt.

Dịch nghĩa:

Trong cung trống không, Tuyết dày ba thước.

Than ôi nguyên thủ, Xe nam đường bắc.

Tụng viết:

Yêu phân vị tĩnh bất khang ninh.

Bắc tảo phong yên vọng đế kinh.

Dị tính lập triều chung quốc vị.

Bốc thế tam lục hựu nam hành.

Dịch Nghĩa:

Khí yêu chưa tĩnh chẳng an khang.

Bắc phương khói lửa ngóng đế kinh.

Họ khác lập triều vận nước đứt.

Tính đời ba sáu lại về nam.

Kim Thánh Thán bình chú:

Tượng này nói về việc quân Kim tấn công xuống phía nam, Huy Tông lên ngôi. Vào tháng 11 năm Tĩnh Khang nguyên niên, kinh sư thất thủ, tháng 4 năm sau, hai vị hoàng đế và tông thất, phi tần bị bắt làm tù binh đưa về phương bắc, lập Trương Bang Xương làm đế. “Bốc thế tam lục” có nghĩa là từ đời Thái Tổ tới đời Huy, Khâm Tông, nhà đã Tống trải qua 9 đời vua, sau đó dời về nam lại qua một đời nữa.

Ý nghĩa của đồ hình

Trong hình có ba người, hai người đứng trước mặc hoàng bào, ám chỉ Tống Huy Tông và Tống Khâm Tông, người đứng ở phía sau mặc trang phục của dân tộc thiểu số, ám chỉ quân Kim tới xâm lăng. Ở đây ý nói hai hoàng đế Huy Tông và Khâm Tông bị quân Kim bắt làm tù binh áp giải tới triều Kim, Bắc Tống diệt vong.

Ý nghĩa của bài thơ

Tượng này là nói tới sự biến Tĩnh Khang, còn gọi là nạn Tĩnh Khang, hoạ Tĩnh Khang, mối nhục Tĩnh Khang. Sư kiện này xảy ra vào năm 1126. Sau khi bộ lạc Nữ Chân sinh sống lâu năm ở miền bắc xây dựng nên chính quyền triều Kim, đã tấn công tiêu diệt nước Liêu, sau đó khởi binh tấn công Bắc Tống.

Chưa tới một năm, quân Kim đã chiếm được kinh đô Khai Phong của Bắc Tống, bắt hai vị hoàng đế triều Bắc Tống, là Tống Huy Tông và Tống Khâm Tông làm tù hình. Còn áp giải phần lớn hoàng thân quốc thích, đại thần, quan lại trong triều tới nước Kim. Khiến hàng chục nghìn người dân trong phủ Khai Phong mất nhà cửa, phiêu bạt trong chiến loạn. Sự kiện này xảy ra vào đầu niên hiệu Tĩnh Khang, bởi vậy mới có tên là sự biến Tĩnh Khang.

Trong cung trống không, tuyết dày ba thước“. ý nói vào mùa đông rét buốt, tuyết bay đầy trời, quân Kim tấn công kinh đô Biện Lương của Bắc Tống, cướp sạch trơn mọi thứ trong cung điện.

Than ôi nguyên thủ, xe nam đường bắc” chính là tỏ ý xót thương cho hai vị hoàng đế Tông Huy Tông và Tống Khâm Tông, một mực cầu hoà với quân Kim, song cuối cùng vẫn không thể giữ vững được giang sơn Đại Tống, ngay cả bản thân cũng bị bắt làm tù binh, bị áp giải lên phương Bắc.

Yêu phân vị tĩnh bất khang ninh” (Khi yêu chưa tính chàng an khang), ý nói quân Kim xâm phạm Bắc Tống trong niên hiệu Tĩnh Khang.

Bắc tảo phong yên vọng đế kinh“ (phương bắc khói lửa ngóng về đế kinh), ý nói đại quân Kim khi thế ngút trời, tiến xuống phía nam tiêu diệt triều Tống, chiến hỏa đã áp sát kinh đô Khai Phong của Bắc Tống.

Dị tính lập triều chung quốc vị” (họ khác lập triều vận nước dứt). ý nói sau khi nước Kim khởi binh tiêu diệt Bắc Tống, lập đại thần Trương Bang Xương làm quân vương, đổi quốc hiệu là Đại Sở.

Bốc thế tam lục hựu nam hành” (tính đời ba sáu lại về nam), ý nói triều đình Bắc Tống trải qua tổng cộng 9 đời hoàng đế. Sau này Tông thất dời xuống phía nam, xây dựng nên triều Nam Tống.

Ứng tượng quẻ Hỏa Trạch Khuê trong Kinh dịch

Tượng này ứng với quẻ Hỏa Trạch Khuê trong “Kinh Dịch“. Quẻ thượng Khuê là Ly, đại diện cho lửa, quẻ hạ Khuê là Đoài, đại diện cho hồ, ao, tượng trưng cho Thuỷ Hoả vừa tương khắc, vừa nương tựa vào nhau. vạn vật trong giới tự nhiên liên tục vận hành trong vòng tuần hoàn sinh khắc. Đây chính là quy luật cơ bản của vũ trụ.

Lời quẻ Hỏa Trạch Khuê là: “Khuê: Tiểu sự cát”, có nghĩa là chiêm bốc được quẻ Hỏa Trạch Khuê, gặp việc nhỏ sẽ có được may mắn.

“Thoán viết: Khuê, hoả động nhi thượng, trạch động nhi hạ. Nhị nữ đồng cư, kỳ chí bất đồng hành. Thuyết nhi lệ hồ minh, nhu tiến nhi thượng hành, đắc trung nhi ứng hồ cương, thị dĩ tiểu sự cát. Thiên địa khuê nhi kỳ sự đồng dã, nam nữ khuê nhi kỳ chí thông dã. Khuê chi thời, dụng đại hỹ tai“.

lời tượng quẻ Hỏa Trạch Khuê cho rằng, quẻ trên Ly của quẻ Khuê đại diện cho lửa, quẻ dưới Đoài của quẻ Khuê đại diện cho đầm, mang nghĩa lửa cháy phía trên đầm. Quê Ly còn đại diện cho con gái thứ hai trong nhà, quẻ Đoài đại diện cho con gái thứ ba trong nhà, hai người phụ nữ cùng ở chung một nhà, chăm sóc một chồng, tất sẽ sinh lòng đố kỵ giữa hai bên, không thể sống vui vẻ hoà thuận.

Quẻ Ly cũng đại diện cho Thái dương, quẻ Đoài đại diện cho tâm tư vui mừng, điều này giống như là để lấy lòng quân chủ, thần tử lúc nào cũng tỏ ra cung phụng đối với quân chủ. Hào Lục Tam của quẻ Hỏa Trạch Khuê là hào Âm, đại diện cho sức mạnh yếu ớt. hào Lục Ngũ cũng là hào Âm, cho thấy rõ khí Âm yếu ớt đang phát triển mạnh lên trên, giống như là thần dân phụ thuộc vào quân chủ, giữ vững đạo lý trung chính, sẽ thành công trong những việc nhỏ. Âm dương giao nhau giữa trời đất, mới có thể sinh hoá vạn vật nam nữ yêu nhau mới có thể kết thành vợ chồng. Mỗi sự vật đều có bản tính riêng thì có thể lợi dụng lẫn nhau.

“Tượng viết: Thượng hoả hạ trạch, Khuê. Quân tử dĩ đồng nhi dị”. Lời tượng cho rằng quẻ trên của quẻ này là Ly Hoả, quẻ dưới là Đoài Trạch, lửa đầm tương khắc, không cùng chí hướng, có thể biết được chỗ giống nhau của vạn vật, cũng có thể phân tích ra điểm khác biệt của vạn vật.

Đây chính là ngầm ám chỉ triều Bắc Tống và Kim tuy đã ký kết hiệp ước cùng tấn công Liêu, song mỗi bên đều có mục đích riêng, Bắc Tống muốn nhân cơ hội này thu phục lại U Châu đã mắt, còn nước Kim lại muốn nhân cơ hội này tiêu diệt nước Liêu và Bắc Tống. Bắc Tống muốn lợi dụng nước Kim song lại chính là tự rước họa về mình, cuối cùng dẫn tới kết cục “nước mất nhà tan”.

Hào Sơ Cửu quẻ Hỏa Trạch Khuê

“Sơ Cửu: Hối vong. Táng mã vật trục. Tự phục. Kiến ác nhân. Vô cữu.”

Ý nói không nên tự trách móc bản thân vì đã làm mất ngựa, cũng không nhất thiết phải đuổi theo ngựa, không lâu sau ngựa sẽ tự trở về. Trên đường gặp người xấu cũng sẽ không có tai hoạ,

Tượng viết: “Kiến ác nhân. Dĩ tỵ cữu dã.”

Lời tượng cho rằng gặp kẻ xấu lại không có tại hoạ, là vì lúc này ý đồ đen tối của kẻ xấu vẫn chưa hoàn toàn bộc lộ, hắn ta vẫn thấy đối phương còn giá trị sử dụng. Hào này ý nói giữa Bắc Tống và nước Kim đã ký kết hiệp ước, trong đó thoả thuận hai bên cùng liên kết tấn công nước Liêu, sau khi thắng lợi, Bắc Tống sẽ thu về 16 châu đã mất, còn nước Kim được củng cố vùng biên giới phía Bắc. Lúc này, tuy người Kim cũng đã có ý đồ tấn công Bắc Tống, song vì muốn có được sự ủng hộ của Bắc Tống nên tạm thời gạt bỏ ý đồ này, đợi sau khi tiêu diệt xong nước Liêu mới tính đến. Còn phía Bắc Tống lại không mảy may nghi ngờ.

Hào Cửu Nhị quẻ Hỏa Trạch Khuê

“Cửu nhị: Ngộ chủ vu hạng. Vô cữu.”

Ý nói vào trong thôn gặp được chủ nhân hiếu khách, sẽ không xảy ra tai hoạ gì.

“Tượng viết: Ngộ chủ vu hạng. Vị thất đạo dã.”

Lời tượng cho rằng, gặp được chủ nhân nhiệt tình tiếp đãi khách sẽ không lo lạc đường. Ở đây ý nói sau khi tiêu diệt thành công nước Liêu, triều Kim đã trao trả cho Bắc Tống 16 châu U Vân vốn thuộc Bắc Tống, tuy Bắc Tống có tổn thất về tài vật vì chiến sự bất lợi, song cuối cùng “được“ vẫn nhiều hơn “mất”.

Hào Lục Tam quẻ Hỏa Trạch Khuê

“Lục tam: Kiến dư duệ. Kỳ ngưu xiết. Kỳ nhân thiên thả tỵ. Vô sơ hữu chung.”

Ý nói nhìn thấy một người đánh xe bò tới, con bò kéo xe xem ra rất mệt mỏi, người đánh xe lại là nô bộc bị thích chữ trên trán, lại bị cắt mũi.

“Tượng viết: Kiến dư duệ. Vị bất đáng dã. Vô sơ hữu chung. Ngộ cương dã.”

Lời tượng cho rằng nô bộc kéo xe đại diện cho hào Lục Tam vốn không nên ở vị trí dương, điều này sẽ khiến con người rơi vào tình cảnh khó khăn. Khó khăn bước đầu sẽ dần dần biến chuyển tốt đẹp, chính là nhờ có hào Cửu Tứ phía trên hào Lục Tam là hào dương, cho thấy vẫn có thể nhận được sự giúp đỡ của người khác mà thoát khỏi cảnh khó khăn. Ở đây ý nói quân Kim tiến về phía nam tấn công triều Tống, trong lúc nguy cấp, Tống Huy Tông đã nhượng lại ngôi vị cho con trai là Triệu Hằng, cũng chính là Tống Khâm Tông. Tống Khâm Tông phái Binh bộ thị lang Lý Cương ra trận nghênh chiến với quân Kim, quân Tống nỗ lực phòng ngự, bởi vậy quân Kim đã không thể thành công trong lần tấn công đầu tiên. Tuy nhiên do nội bộ triều đình Bắc Tống rối ren, nên quân Tống đã rơi vào tình cảnh khó khăn.

Hào Cửu Tứ quẻ Hỏa Trạch Khuê

“Cửu tứ: Khuê cô. Ngộ nguyên phu. Giao phu. Lệ. Vô cữu.”

Có nghĩa là một người đi một mình trên đường, nhìn thấy phía trước có một người thọt, bất ngờ bị người khác bắt đi, ở vào tình thế vô cùng nguy hiểm, song lại không gặp tai hoa nghiêm trọng.

“Tượng viết: Giao phu vô cữu. Chí hành dã“.

Lời tượng cho rằng, nếu tin tưởng lẫn nhau, có thế hoàn thành chí hướng. Hào này ý nói, triều đình Bắc Tống không ngừng tranh luận về vấn đề “triều Kim tấn công”, dẫn tới nảy sinh mâu thuẫn nội bộ, khiến thành trì vốn có thể giữ được lại bị kẻ địch chiếm mất, bản thân hai vị hoàng đế Tống Huy Tông và Tống Khâm Tông cũng bị quân Kim bắt làm tù binh, dân chúng trong thành khốn đốn, đây chính là vì hai bên không tin tưởng lẫn nhau, không đồng tâm hiệp lực tiêu diệt kẻ thù.

Hào Lục Ngũ quẻ Hỏa Trạch Khuê

“Lục ngũ: Hối vong. Quyết tông phệ phu. Vãng, hà cữu

Có nghĩa ta nhìn thấy người họ hàng của mình ăn thịt, trong lòng không có chút hối hận, người cô độc kết bạn cùng đồng hành sẽ không gặp nguy hiểm.

“Tượng viết: Quyết tông phệ phu, văng hữu khánh đã

Lời tượng cho rằng, người cùng dòng tộc được ăn thịt, đi làm một số việc trong tình cảnh này sẽ có thu hoạch. Hào này ý nói sau khi Bắc Tống diệt vong, người Kim bổ nhiệm Trương Bang Xương lên làm hoàng đế, xây dựng nên chính quyền Đại Sở, quản lý việc Trung Nguyên. Sau khi quân Kim rút lui, trước sức ép của quân thần, Trương Bang Xương buộc phải nhường lại ngôi vị cho Triệu Cấu, nhà Nam Tông được xây dựng từ đây, từ đó về sau quan hệ giữa Tống Kim hoà bình trở lại.

Hào Thượng Cửu quẻ Hỏa Trạch Khuê

“Thượng Cửu: Khuê cô. Kiến thỉ phụ đồ. Tải quỉ nhất xa. Tiên trương chi hồ. Hậu thoát chi hồ. Phỉ khấu hôn cấu. Vãng ngộ vũ tắc cát.”

Có nghĩa là nhìn thấy một người đi một mình trên đường, đột nhiên gặp một con lợn và một cỗ xe ngựa, trên xe chở một đám người có tướng mạo kỳ lạ, định bắn tên vào họ, phát hiện thấy họ lại không phải là đạo tặc, mà là đám người đi đón dâu, nên tiếp tục đi. Tuy trên đường còn gặp mưa to, song vẫn bình an.

Tượng viết: Ngộ vũ chi cát, quân nghi vong dã

Lời tượng cho rằng hào Thượng Cửu nói tới sự việc trên đường đi gặp đoàn đón dâu, do hai bên không tin tưởng lẫn nhau nên dẫn tới xung đội sau khi hiểu ra thì nghi ngờ được hoá giải, lại bình yên không có chuyện gì. Hào này ý nói sau sự biến Tĩnh Khang, hai nước Kim và Tống đã hoà bình trở lại, điều này cũng khiến cho Nam Tống có thể an phận một góc trời, quốc vận tiếp tục được duy trì hơn 150 năm.

Lịch Sử Ẩn Phía Sau Tượng quẻ 21 – Hỏa Trạch Khuê

Năm 1120, Bắc Tống và Kim ký kết minh ước trên biển, cùng tiêu diệt nước Liêu, nước Kim tấn công Trung Kinh của Liêu, còn Bắc Tổng tấn công Yên Kinh của Liêu, hai bên thoả thuận sau khi sự việc thành công sẽ trả lại cho Bắc Tống 16 châu Yên Vân đã mất, các vùng đất còn tại của Liêu đều thuộc về Kim. Sau đó, quân Kim công chiếm thuận lợi Trung Kinh, còn Bắc Tông lại thất bại thảm hại, Yên Kinh cũng bị quân Kim lấy mất, triều tiêu diệt vong từ đây.

Tuy thất bại thảm hại trước nước Liêu, song Bắc Tống vẫn đợi nước Kim trả lại vùng đất U Châu như đã thoả thuận. Nhưng nước Kim lại cho rằng Bắc Tống đã không đánh thắng nên không chấp nhận. Không còn cách nào khác, Bắc Tống đành phải bỏ ra một khoản tiên lớn để chuộc lại 16 châu U Vân.

Mâu thuẫn nội bộ triều đình Bắc Tống lúc này đã trở nên vô cùng gay gắt giữa thái tử Triệu Hằng và các đại thần nảy sinh bất hoà, Triệu Hằng liên kết bè đảng trừ bỏ các đại thần chống đối, tể tướng cũng bị bãi chức. Vị trí tể tướng để trống, đại thần thân tín đã khuyên Huy Tông trọng dụng lại gian tướng Sái Kinh, lúc này Sái Kinh đã 80 tuổi, không thể xử lý hết mọi việc, bởi vậy quyền lực do con trai ông ta năm giữ, mọi việc lớn nhỏ trong kinh thành đều tuân theo mệnh lệnh của hai cha con Sái Kinh.

Vào tháng 7 năm 1123, cựu tướng triều Liêu trấn thủ Hà Bắc là Trương Giác chạy khỏi nước Kim tới quy hàng Bắc Tống, trốn tới Yên Kinh thuộc lãnh thổ Bắc Tống. Nước Kim lấy lý do “Bắc Tống tiếp nhận tướng phản bội” mà hỏi tội Bắc Tống. Bắc Tống bất đắc dĩ đành phải chém chết Trương Giác, sự kiện này đã khiến người Hán ở vùng biên cương vô cũng bất bình.

Sau đó, vị vua vốn chủ trương giao hoà Với Bắc Tống là Hoàn Nhan A Cốt Đả qua đời, em trai là Hoàn Nhan Thành lên ngôi đã nung nấu ý đồ tấn công Bắc Tống. Vào năm 1125, trước sự phản đối kịch liệt của nhóm Đồng Quán, một lần nữa Sái Kinh lại bị bãi chức tể tướng, khiến nội bộ triều đình Bắc Tống rối loạn. Tháng 8 năm đó, nhân lúc nội bộ triều Bắc Tống xảy ra tranh chấp, quân Kim mượn chuyện Trương Giác để chia quân thành hai lộ đông tây tấn công Bắc Tống.

Lộ quân phía đông do Hoàn Nhan Can lãnh đạo, tiến thẳng tới Yên Kinh, lộ quân phía tây do Niêm Hãn lãnh đạo, vượt qua Nhạn Môn Quan tiến tới Thái Nguyên. Quân Kim phía đông tấn công thần tốc, chưa tới nửa năm đã vượt qua Hoàng Hà, áp sát kinh thành Biện Lương của Bắc Tống. Trước tình thế nguy cấp, Tống Huy Tông không biết phải làm thế nào, đã nhường lại ngôi vị cho con trai là Khâm Tông.

Khâm Tông lên ngôi, đổi niên hiệu là Tĩnh Khang, năm 1126 chính là năm Tĩnh Khang nguyên niên. Vào tháng giêng năm đó, cánh quân phía đông do Hoàn Nhan Tông Hàn lãnh đạo đã công chiếm được Biện Lương. Quân Kim một mặt đóng trại ở thành Biện Lương, mặt khác đưa ra điều kiện giảng hoà là triều đình Bắc Tống phải nộp tiên bồi thường, và cắt đất phía bắc Hoàng Hà cho nước Kim.

Vào tháng 8 năm đó, quân Kim phía Tây cũng đã tới Biện Kinh, kết hợp với quân phía đông, tạo nên sức mạnh không gì công phá nổi. Mới đầu Bắc Tống không đồng ý với điều kiện giảng hoà trên, cho quân chống cự, song do nội bộ rối loạn, mệnh lệnh không thống nhất, nên đã liên tục thất bại. Quân Kim chiếm thế thượng phong, thuận lợi tràn vào Biện Kinh.

Vào năm Tĩnh Khang thứ 2 (năm 1127), trước sức tấn công dồn dập của quân Kim, Biện Kinh thất thủ, Huy Tông và Khâm Tông bị bắt làm tù binh, Bắc Tống diệt vong từ đây.

Kim Thái Tông Hoàn Nhan Thạnh hạ lệnh phế bỏ hai hoàng đế Huy Tông và Khâm Tông, giáng làm thường dân, cưỡng chế cởi bỏ long bào của hai vị hoàng đế này. Các đại thần không phục tùng quân Kim cũng bị bắt giam, sau này có người bị xử chết, có người bị lưu đày. Tháng 3 năm đó, Kim Thái Tông lập Trương Bang Xương làm hoàng đế, xây dựng chính quyền Đại Sở, sau đó chia quân rút lui. Quân Kim mang theo mười vạn tù binh triều Bắc Tống gồm Huy Tông, Khâm Tông, hoàng hậu, thân vương, công chúa, phi tần, thợ thủ công, dân chúng, còn vơ vét theo cả thư tịch, văn hiến, châu báu trở về phía bắc. Từ đây, sự biến Tĩnh Khang kết thúc với thắng lợi của nước Kim và sự diệt vong của Bắc Tống.

Comment ngay nếu có gì thắc mắc về Quẻ Hỏa Trạch Khuê để nhận giải đáp trực tiếp từ Ad nhé !!!

(Series bài viết Hướng dẫn tự học Kinh Dịch Tại chuyên mục Giáo Dục dành cho Newbie được viết bởi Phú Hà

Để trở về trang chủ mời quý khách Click Tại Đây)

5 BÌNH LUẬN

  1. Quẻ Khuê – Thượng – Hạ đều là nữ – Chị em sinh ra tưởng một lòng nhưng cuối cùng đứa nào cũng vì chồng của nó cả – Tất sinh dị tâm – Đó là ĐẠO chia lìa vậy

BÌNH LUẬN

Please enter your comment!
Please enter your name here