Ý nghĩa quẻ Phệ Hạp, Hỏa Lôi Phệ Hạp – Quẻ số 21 – Kinh Dịch

1
107
Quẻ Hỏa Lôi Phệ Hạp - Quẻ dịch số 21
Quẻ Hỏa Lôi Phệ Hạp - Quẻ dịch số 21

Quẻ Hỏa Lôi Phệ Hạp muốn nói sự trở ngại trong công việc đang ở phía trước. Người quân tử thấy được điều này phải quyết tâm đập tan mọi trở ngại để đi đến thành công, đó mới là linh hồn quẻ Hỏa Lôi Phệ Hạp.

Ra oai hành đạo mới hanh thông.

Hình ngục cho ai khổ cõi lòng.

Trừng phạt vẫn thương người lỗi đạo

Hiếu sanh tâm phật vốn khoan hồng.

Có thể bạn cần tham khảo thêm Quẻ Sơn Hỏa Bí

Hoặc tham khảo thêm   Quẻ Bát Thuần Càn Càn Vi Thiên

Giải nghĩa quẻ Hỏa Lôi Phệ Hạp

Quẻ Hỏa Lôi Phệ Hạp có quẻ thượng là Ly, là mặt trời, mặt trời (mọc) bên trên là tượng ban ngày. Quẻ hạ là Chấn là chân, là rồng, là nơi đông người đi lại. Nơi ban ngày có đông người đi lại, có tượng là chợ búa. Phệ Hạp theo cổ văn là cắn, là ngậm miệng lại.

Chợ búa là nơi trao đổi hàng hóa, chỉ có cắn chặt lấy tình hình giá cả mới có thể thu về lời lãi. Nhìn tượng quẻ Hỏa Lôi Phệ Hạp, hình giống như cái miệng cắn giữ vật ( Hai hào Dương là đôi môi, hào Dương Cửu Tứ là vật được cắn giữ trong miệng).

Thượng quái là Ly (lửa). Hạ quái là Chấn (sấm sét). Quẻ còn có tên là quẻ Hỏa Lôi Phệ Hạp 火 雷 噬 嗑.

Wilhelm bình giải nghĩa về quẻ Hỏa Lôi Phệ Hạp như sau:

Quẻ Hỏa Lôi Phệ Hạp tượng trưng một cái miệng đang há lớn, ở giữa (nơi hào Cửu Tứ) có một vật trở ngại nằm giữa hai hàm răng. Kết quả là hai môi không thể khép lại được. Để khép miệng lại cần phải cắn thật mạnh cho đứt ngang trở ngại đó. Vì quẻ Hỏa Lôi Phệ Hạp được kết hợp bởi hai quẻ Ly (lửa sáng) và Chấn (sấm sét), nó tượng trưng cho việc khắc phục các trở ngại trong tự nhiên.

Cắn thật mạnh để khắc phục các trở ngại không cho khép miệng lại. Cơn bão mang theo sấm sét đã quét sạch những căng thẳng rối loạn trong tự nhiên. Phải sử dụng đến pháp luật và trừng phạt để dẹp tan những căng thẳng rối loạn gây mất ổn định trong cuộc sống xã hội bình yên do bọn tội phạm và những kẻ sàm tấu gây ra. Chủ đề chính của quẻ Hỏa Lôi Phệ Hạp là tranh tụng về tội hình sự, khác với quẻ Thiên Thủy Tụng là chỉ sự tranh chấp về dân sự.

Quái từ quẻ Hỏa Lôi Phệ Hạp

Phệ Hạp. Hanh. Lợi dụng ngục. (噬 嗑: 亨 利 用 獄)

Dịch nghĩa: Bói“ được quẻ Phệ Hạp thì rất tốt, chuyện kiện tụng sẽ thắng lợi.

Giải thích:

“Phệ hạp” 噬 嗑 có nghĩa là “cắn đứt”, tượng trưng cho hình phạt uy nghiêm. Quẻ này Âm Dương tương tế, cương nhu tương giao vì quẻ Ly là quẻ âm và quẻ Chấn là quẻ dương.

Từ Tử Hùng so sánh “dương” với “hàm răng cứng cắn mạnh” (cương xỉ phá vật), còn “âm” với “cái lưỡi mềm dùng để nếm” (nhu thiệt thức vị ), răng lưỡi phối hợp, loại bỏ những tạp chất thô thiển và giữ lại những gì tinh hoa (khứ thô thủ tinh), có nghĩa là phải sử dụng cả ân huệ và uy nghiêm trong cai trị (ân uy tịnh dụng, nghiêm minh kết hợp).

Đại tượng quẻ Hỏa Trạch Khuê

Lôi điện Phệ Hạp. Tiên vương dĩ minh phạt sắc pháp. (象 曰: 雷 電 噬 嗑 , 先 王 以 明 罰 敕 法)

Dịch nghĩa: Sấm sét rền vang là tượng trưng cho quẻ Hỏa Lôi Phệ Hạp, tiên vương nhìn tượng quẻ Phệ Hạp để sử dụng hình phạt nghiêm minh, ban bố pháp luật.

que-hoa-loi-phe-hap-so-21-1
Tượng quẻ Hỏa Lôi Phệ Hạp

Giải thích:

Các sách khác vẫn chép “lôi điện” 雷 電 . Từ Tử Hùng dẫn theo Hạng An Thế để viết “điện lôi.” Hạng An Thế thì dẫn trong Hán thạch kinh 漢 石 經 để chỉnh lại. Chúng tôi thấy như thế là hợp lý vì phải có chớp (điện) trước rồi mới nghe tiếng sấm (lôi) sau.

“Minh phạt sắc pháp” 明 罰 敕 法 có nghĩa là “cai trị nghiêm minh, xem xét rõ ràng chuyện hình phạt” (nghiêm minh trị chính, minh sát hình phạt), giống như tia chớp sáng soi thấu rõ mọi tăm tối u ẩn (chiếu triệt u ẩn đích điện). Thái độ uy nghiêm khi thi hành, tu chính pháp luật giống như sấm động, mọi người đều kiêng sợ (thủ pháp uy phong lẫm lẫm đích lôi).

Quẻ Hỏa Lôi Phệ Hạp Hào Sơ Cửu

Lời hào Sơ Cửu quẻ Hỏa Lôi Phệ Hạp viết:

Sơ Cửu. Lũ giáo diệt chỉ. Vô cữu. (屨 校 滅 趾, 無 咎)

Dịch nghĩa: Hào Sơ Cửu quẻ Hỏa Lôi Phệ Hạp là hào Dương: Kéo lê chân trong cùm, mất cả ngón chân, nhưng đây không phải là hình phạt quá nặng, cứ tiến hành không có lỗi gì cả.

Hào 1 quẻ Hỏa Lôi Phệ Hạp
Hào 1 quẻ Hỏa Lôi Phệ Hạp

Giải thích:

Các sách chép là “lý” 履. Phan Bội Châu do đó giải nghĩa “lý giáo” 履 校 là “lấy chân đạp lên cùm’ ’nghĩa rõ ràng là vô lý vì hào Sơ Cửu tượng trưng cho địa vị thấp nhất trong xã hội mà có thể “đạp chân lên cùm” thì hình phạt đâu còn tác dụng gì nữa. Nguyễn Hiến Lê cũng đi theo cách giải vô lý này ( Nguyễn Hiến Lê cũng ý thức rằng  Lý có bản chép là Lũ, nhưng ông lại giải nghĩa sai lũ là Chiếc dép và cũng đồng nghĩa với Lý.…)

Bùi Văn Nguyên cũng giải nghĩa là “dẫm lên cùm để tra khảo đến đứt ngón chân cái, trong khi chỉ cần tham khảo Wilhelm cũng thấy ông dịch gần đúng là “Chân bị trói chặt trong cùm”. Còn “đạp chân lên cùm” thì bộ dạng có vẻ anh chị quá. Chúng tôi theo bản Chu Dịch Hán Bạch thư 周 易 汉 帛 書 (Chu Dịch bản chép trên lụa tìm thấy trong khu mộ vương thất nhà Hán tại Mã Vương Đôi, Trường Sa, tỉnh Hồ Nam, năm 1973) thì thấy chép là “cú” 句 có nghĩa là “lũ” 屨 (nhưng thời cổ viết là 婁) có nghĩa là “kéo lê” (duệ đà). Hai chữ “ cú” và “lũ” trong âm Bắc Kinh hiện đại phát âm như nhau, đều là /jù/.

“Giáo ” 校 là một hình cụ thời cổ dùng để gông tù nhân, nghĩa giống như “chất” 桎 hay “gia” 枷. Nên “lũ giáo” 屨 校 có nghĩa là “kéo lê chân trong cùm.”

Wilhelm bình giải nghĩa hào này cho việc “cùm chân” là một hình phạt nhẹ. Ông viết: “Nếu lần đầu phạm tội bị phạt thì hình phạt chỉ nhẹ thôi. Chỉ có ngón chân bị đưa vào cùm. Điều này ngăn cản không cho hắn phạm tội thêm nữa và như thế hắn tránh được việc phạm tiếp những sai lầm khác. Đây là lời cảnh cáo hãy ngừng lại trên con đường phạm tội.”

Quẻ Hỏa Lôi Phệ Hạp Hào Lục Nhị

Lời hào Lục Nhị quẻ Hỏa Lôi Phệ Hạp viết:

Lục nhị. Phệ phu diệt tị. Vô cữu. (噬 膚 滅 鼻, 無 咎)

Dịch nghĩa: Hào Lục Nhị quẻ Hỏa Lôi Phệ Hạp là hào âm: Ăn ngồm ngoàm miếng thịt tươi ngon, bị phạt cắt mất mũi, nhưng không phải là hình phạt nặng.

Hào 2 quẻ Hỏa Lôi Phệ Hạp
Hào 2 quẻ Hỏa Lôi Phệ Hạp

Giải thích:

“Phệ” 噬 Vương Bật chú Có nghĩa là “căn” (khiết 齧) hay “nhai” (thư tước). “Phu” 膚 theo Lục Đức Minh dẫn lại Mã Dung chú “mềm giòn béo tốt thì gọi là phu” (nhu thúy phì mỹ viết phu).

Từ Tử Hùng dẫn Nghi lễ Sĩ sính lễ giải: phu là cá tươi, thịt heo mới, thịt tươi tốt các loại đều có thể gọi là phu (phu, tiên ngư, tiên trư, tiên mỹ chi nhục giai khả xưng phu).

Trịnh Huyền lại giải nghĩa phu là miếng thịt sườn bị lóc mất thịt” (phu hiếp cách nhục).

“Diệt tị” 滅 鼻 là “bị hình phạt cắt mất mũi ” (tao thụ cắt tị chi hình)

Wilhelm giải nghĩa: Dễ dàng phân biệt giữa sai và đúng trong trường hợp này, giống như cắn miếng thịt mềm mại vậy. Nhưng (hình quan) đã gặp phải một tên tội phạm sừng sỏ và do hơi nổi nóng, đã đi hơi quá tay (trong sự trừng phạt). Việc lỗ mũi bị biến mất trong quá trình cắn ý muốn nói sự tức giận quá đáng làm lu mờ mọi cảm tính tinh vi tế nhị. Tuy nhiên, không có gì tai hại trong vấn đề này, vì hình phạt như thế là công bằng”.

Vậy theo Wilhelm “mũi đây không phải là mũi tên tội phạm mà chính là “mũi” viên hình quan khi chúi mặt cắn miếng thịt lút cả mũi vào trong đó (do quá ham ăn) biểu tượng cho việc hình quan quá giận nên ra tay hơi nặng trong việc trừng trị bọn tội phạm“.

Quẻ Hỏa Lôi Phệ Hạp Hào Lục Tam

Lời hào Lục Tam quẻ Hỏa Lôi Phệ Hạp viết:

Lục tam. Phệ tích nhục ngộ độc. Tiểu lận. Vô cữu. (噬 臘 肉, 遇 毒, 小 吝, 無 咎)

Dịch nghĩa: Hào Lục Tam quẻ Hỏa Lôi Phệ Hạp là hào âm: Ăn miếng thịt khô, trúng độc, cũng phiền não một chút, nhung không có gì nghiêm trọng.

Hào 3 quẻ Hỏa Lôi Phệ Hạp
Hào 3 quẻ Hỏa Lôi Phệ Hạp

Giải thích:

Chắc chắn đây là một quẻ bói cho một người (có thể là một đấng quý tộc ham ăn) xơi món thịt khô (tích nhục 臘 肉) và bị “ngộ độc thực phẩm” nhưng người gieo quẻ đã trấn an là không có gì nghiêm trọng. Có lẽ là một lời khuyên theo kiểu “bệnh tòng khẩu nhập” để cảnh cáo những vua chúa ham nhồi nhét mà không tự biết là đang đào huyệt bằng răng. Không hiểu sao một quẻ nói về hình ngục lại toàn chuyện ăn uống như thế này? Trên thì “xơi cá tươi, thịt béo” cũng bị “cắt mất mũi” còn dưới thì “ăn thịt khô” để bị… Tào Tháo rượt.

Wilhelm bình giải nghĩa hào này như sau: Hình phạt được những người không có quyền lực và uy tín thực hiện nên bọn tội phạm không tâm phục. Vấn đề ở đây là một vấn đề cũ được tượng trưng bằng thịt muối khô và rắc rối nảy sinh khi xử lý nó. Miếng thịt cũ này đã hư: có nghĩa là khi xử lý vấn đề cũ này người trừng phạt (hình quan) gây ra làn sóng thù ghét đối với bản thân ông và như thế khiến ông ở vào một vị thế bị mất thể diện, nhưng do lúc đó cần phải có sự trừng phạt, nên hình quan không có lỗi.

Quẻ Hỏa Lôi Phệ Hạp Hào Cửu Tứ

Lời hào Cửu Tứ quẻ Hỏa Lôi Phệ Hạp viết :

Cửu tứ. Phệ can chỉ. Đắc kim thỉ. Lợi gian trinh. Cát. (噬 乾 胏, 得 金 矢 利 艱 貞, 吉)

Dịch nghĩa: Hào Cửu tứ quẻ Hỏa Lôi Phệ Hạp là hào Dương: Ăn thịt khô phát hiện có đầu tên bằng kim loại, ăn khó khăn nên mới có lợi là không nuốt luôn đầu tên vào bụng, bởi được hào này là tốt.

Hào 4 quẻ Hỏa Lôi Phệ Hạp
Hào 4 quẻ Hỏa Lôi Phệ Hạp

Giải thích:

“Chỉ” 胏 tự điển Thiều Chửu giải nghĩa là “nem có lẫn xương”. Tự điển Mathew’s giải nghĩa là “thịt khô có xương” (dried meat with bone in it). Hán ngữ đại từ điển giải nghĩa là “thịt có dính xương” (đới cốt đầu đích nhục). Lục Tích do Lý Đỉnh Tộ dẫn lại giải nghĩa: “thịt có xương gọi là chỉ” (nhục hữu cốt vị chi chỉ).

Cao Hanh giải nghĩa câu trên là “do thịt có xương nên nhai khó khăn, nhờ đó mới phát hiện bên trong có mũi tên vàng, nếu không nhai khó chắc xơi luôn mũi tên vào bụng rồi” (nhục hữu cốt nhi thực chi nan, thực chi nan cố phát kiến kim thỉ, phủ tắc tất ngộ thôn kim thỉ nhập phúc trung hĩ).

Chúng tôi không thấy học giả nào giải nghĩa thông câu này. Tại sao trong xương lại có mũi tên vàng? Nguyên mũi tên lớn làm sao chui vào nằm trong miếng xương được? Có lẽ là đầu mũi tên khi bắn trúng con thú đã ăn sâu vào xương chăng? Cao Hanh đã giải nghĩa tương tự như vậy.

Trương Thiện Văn và Hoàng Thọ Kỳ hoàn toàn cho rằng đây chỉ là ẩn dụ: chẳng hạn chuyện ăn thịt có xương nhai cắn khó khăn cũng giống như việc áp dụng hình phạt không được suôn sẻ thuận lợi (tượng giảo khiết can ngạnh đới cốt đích nhục nhất dạng thi hình bất thuận).

Còn chuyện “kim thỉ” 金 矢 có nghĩa là “đã chuẩn bị sẵn sự cương trực khí phách mạnh mẽ giống như mũi tên bằng kim loại” (cụ bị kim chất tiễn thỉ tự đích cương trực khí phách). Cách giải nghĩa này cũng rõ nhưng Trương Thiện Văn và Hoàng Thọ Kỳ cũng giải nghĩa hào Lục Ngũ giống hệt như vậy thì người đọc lại đâm ra bối rối. Chẳng lẽ thánh nhân lại dài dòng văn tự (nhất là phải viết bằng văn giáp cốt) dùng cả hai hào để diễn tả một ý như vậy?

Wilhelm giải nghĩa: Có những trở ngại lớn lao cần phải khắc phục, những kẻ đối lập thế lực cần phải bị trừng phạt. Mặc dầu đây là một nhiệm vụ khó khăn, nhưng vẫn thành công. Nhưng cần phải cứng rắn như kim loại và thẳng (chính trực) như mũi tên thì mới vượt qua được khó khăn. Nếu hiểu được những khó khăn này và tiếp tục kiên trì hình quan sẽ đạt được thành công. Cuối cùng thì nhiệm vụ (trừng phạt, xử lý hình ngục) cũng thực hiện tốt.

Quẻ Hỏa Lôi Phệ Hạp Hào Lục Ngũ

Hào Lục Ngũ quẻ Hỏa Lôi Phệ Hạp viết:

Lục ngũ. Phệ can nhục.  Đắc hoàng kim. Trinh lệ. Vô cữu. (噬 乾 肉,得 黃 金,貞 厲,無 咎)

Dịch nghĩa: Hào Lục Ngũ quẻ Hỏa Lôi Phệ Hạp là hào Âm: Ăn thịt khô, gặp đầu tên kim loại, đi bói quẻ thấy có điểm xui, nhưng cuối cùng không có tai họa gì lớn.

Hào 5 quẻ Hỏa Lôi Phệ Hạp
Hào 5 quẻ Hỏa Lôi Phệ Hạp

Giải thích:

Từ Tử Hùng, người chuyên đưa ra những lý giải độc đáo, cũng thừa nhận rằng “hoàng kim” 黃 金 trong hào này cũng y hệt như “kim thỉ”  金 矢 trong hào Cửu Tứ nói trên và hai câu tuy viết hơi khác như đồng một nghĩa (hoàng kim nghĩa dữ kim thỉ đồng, thử đồng nghĩa dị văn).

Trương Thiện Văn và Hoàng Thọ Kỳ giải nghĩa: Giống như ăn thịt khô dai khó khăn việc thì hành hình luật cũng thế, không được thuận lợi cho lắm, nhung cũng dự bị đầy đủ khí phách cường kiện trung hòa như kim loại, gìn giữ kiên chính để phòng sự nguy hiểm, có thể tránh được tai hại” (Tượng giảo khiết can ngạnh đích nhục bô nhất dạng thi hình bất thậm thuận lợi, đán cụ bị hoàng kim tự đích cương kiên trung hòa khí phách, thủ trì chính cố dĩ phòng nguy hiểm, khả miễn cữu hại).

Nếu hai quẻ bói này giống nhau về chuyện ăn thịt khô thấy “hoàng kim” hay “kim thỉ” thì tại sao hào Cửu Tứ lại “lợi gian chinh cát” 利 艱 貞, 吉 mà hào Lục Ngũ lại ” Trinh lệ vô cữu” 貞 厲, 無 咎. Thật là khó hiểu Cao Hanh giải nghĩa “hoàng kim” 黃 金 không phải là “kim thỉ” 金 矢 mà là “một hạt gạo màu vàng cực nhỏ” (hoàng kim lạp), may mà không lọt vào bụng, lọt vào là chết chắc, nhưng lọt vào rồi mà chưa chết cũng là may lắm. Bói được hào này thì nguy chuyển thành an” (Khiết can nhục nhi phát hiện kỳ trung hữu hoàng kim lạp dã. Hoàng kim lạp dã thậm vi, kỳ bất nhập phúc; hạnh dã. Hoàng kim lạp nhập phúc tắc tử, kỳ nhập chi . bất tử, diệc hạnh dã thử ngộ hiểm hóa di chi tượng)…

Wilhelm giải nghĩa: trường hợp cần phải quyết định ở đây thật sự không giản dị chút nào nhưng hoàn toàn rõ ràng. Vì chúng ta thường có khuynh hướng nghiêng về sự khoan dung dễ dãi, chúng ta cần nỗ lực để giống như vàng, có nghĩa là chân chính như vàng và không thiên vị như màu vàng, màu tượng trưng cho sự trung dung, trung chính. Bằng cách luôn cảnh giác về những mối nguy hiểm phát sinh từ nhiệm vụ chúng ta có thể tin rằng bản thân có thể tránh phạm sai lầm.

Quẻ Hỏa Lôi Phệ Hạp Hào Thượng Cửu

Lời hào Thượng Cửu quẻ Hỏa Lôi Phệ Hạp viết:

Thượng Cửu. Hà giáo diệt nhĩ. Hung. (何 校 滅 耳,凶)

Dịch nghĩa: Hào Cửu Thượng quẻ Hỏa Lôi Phệ Hạp là hào Dương: Mang gông trên vai, tai bị cắt mất, rất nguy hiểm.

Hào 6 quẻ Hỏa Lôi Phệ Hạp
Hào 6 quẻ Hỏa Lôi Phệ Hạp

Giải thích:

Lục Đức Minh giải nghĩa “hạ” 何 nguyên thủy viết là “hạ” 荷  (có bộ thảo đầu)” (hạ bản diệc tác hạ). Vương Túc giải nghĩa “hạ” 荷 có nghĩa là “đảm” 擔 (khiêng mang). Từ Tử Hùng cũng giải nghĩa: “hạ” là “bối phụ” 背 負  (mang trên lưng).

“Giáo” 校 là “gia” 枷 (gông cùm). “Diệt nhĩ” 滅 耳 là “Cắt mất tai” (ma phá liễu nhĩ đóa).

Cao Hanh giải nghĩa “hạ giáo diệt nhĩ” 何 校 滅 耳 là một “hình phạt nặng” (trọng phạt). Bùi Văn Nguyên chẳng biết căn cứ vào đâu lại cho rằng “gần đứt tai chứ chưa hẳn là đứt thật”.

Wilhelm thì không cho rằng “tai” ở đây đã bị cắt mất. Ông bình giải: “Ngược hẳn với hào thứ nhất, hào này chỉ một loại người bất trị. Hắn bị phạt phải đeo gông và do gông cho nên không thấy lỗ tai. Ý muốn nói hắn hoàn toàn không muốn nghe những lời cảnh cáo. Sự ngoan cố này dẫn đến bất hạnh.”

Quẻ Hỏa Lôi Phệ Hạp phần Tổng Luận

Trương Thiện Văn và Hoàng Thọ Kỳ tổng luận về quẻ Hỏa Lôi Phệ Hạp như sau: “Quẻ Phệ Hạp lấy vật được nhai cắn trong miệng mà làm thí dụ nhằm giải thích ý nghĩa sử dụng hình pháp.

Quái Từ nói “Hanh, lợi dụng ngục” 亨, 利 用 獄 , đã nêu rõ ý chỉ của quẻ Hỏa Lôi Phệ Hạp là: thuận theo quy luật trị ngục chính xác thì sẽ hanh thông.

Tượng của sáu hào lấy hai hào Sơ Cửu và Thượng Cửu làm thí dụ việc phạm hình luật và bị trị tội. Hào Sơ Cửu mới phạm pháp, nhưng biết sửa lỗi, nên vô cữu. Hào Thượng Cửu tội lỗi chồng chất, nên gặp hung. Hai hào này đều có ý răn đe sâu sắc.

Bốn hào Nhị, Tam, Tứ, Ngũ đều ám chỉ việc áp dụng hình pháp cho người. Trong đó bảo Lục Nhị là lấy nhu thừa cương. Hào Lục Tam và Lục Ngũ là âm ở dương vị. Hào Cửu Tứ là dương ở âm vị. Tất cả đều biểu lộ đạo trị ngục có cương nhu trợ giúp nhau.

Lý Quá nói: Hào Ngũ là vị trí của vua, là người chủ trị ngục. Hào Tứ là vị tứ đại thần, là quan khanh trị ngục. Hào Tam, hào Nhị là bọn nha lại trị ngục. (Ngũ, quân vị dã, vi trị ngục chi chủ, tứ, đại thần vị dã, vi trị ngục chi khanh, tam, nhị hựu kỳ hạ dã, vi trị ngục chi lại).

Vị trí bốn hào Nhị Tam Tứ Ngũ tuy cao thấp khác nhau nhưng quá trình trị ngục có tình trạng phổ biến là cữu 咎 , lận 吝, gian 艱, lệ 厲 . Điều này cho thấy dường như các tác giả Chu Dịch cũng biết rõ việc trị ngục là gian nan. Thể hiện ý nghĩa toàn quẻ là hào Lục Ngũ, âm ở tôn vị, cái đức của nó vốn văn mình, giống như dùng hình mà mong không còn hình, cái dụng của nó cứng rắn nghiêm khắc, giống như sấm sét chấn động tạo thanh uy. Đó là nghĩa lý “minh phạt sắc pháp” 明 罰 敕 法 (sử dụng hình phạt nghiêm minh, ban bố pháp luật) trong Đại Tượng Truyện.

Mã Chấn Bưu cho rằng: Đời thánh làm sáng điều thiện và ghét điều ác, dùng cả minh và uy, đạo ở tại sấm chớp gió thổi. Nước mềm yếu, dân khinh lờn bơi lội đùa giỡn, nên đa số chết đuối. Lửa mãnh liệt, dân trông mà sợ, nên ít người chết cháy. Phép đặt ra hình luật lấy sấm và lửa làm biểu tượng là có lý lẽ của nó. Nhưng lấy nhu trung (hào Ngũ) làm chủ vẫn không mất ý nghĩa trị tội để không còn tội dùng hình phạt để mong không còn hình phạt. Lão Tử giỏi dùng nhu từng nói: Dân nếu không sợ chết sao có thể đem cái chết mà doạ họ? (Dân bất uý tử nại hà dĩ tử cụ chi) Thật là đạt được đạo như trung rồi vậy.

Lời này suy luận sâu sắc ngụ ý của nhu trung, và có thể khai triển triết lý của quẻ này.

Ngục tù, phép tắc sáng ngời.

Nên đời mới có tiến trình phong quang.

Quẻ Hỏa Lôi Phệ Hạp với chiến tranh thế giới lần 1

Lý Thuần Phong đã thông qua quẻ Hỏa Lôi Phệ Hạp dự đoán chính xác sự kiện nổ ra cuộc chiến tranh thế giới lần thứ nhất, đây là cuộc chiến tranh phi chính nghĩa mang tính chất đế quốc, gây nên tai họa nghiêm trọng cho nhân dân toàn thế giới.

Thôi Bối Đồ tượng thứ 38
Thôi Bối Đồ tượng thứ 38

Sấm viết:

Môn ngoại nhất lộc, Quần hùng tranh trục.

Kiếp cập diên ngư, Thủy thâm hỏa nhiệt.

Dịch nghĩa:

Ngoài cửa một hươu, Quân hùng tranh bắt.

Họa tới cá, diều. Nước sâu lửa bỏng.

Tụng viết:

Hỏa vận khai thời họa mạn diên

Vạn nhân hậu tử, vạn nhân tiên.

Hải ba năng sử giang hà trọc.

Cảnh ngoại hà thù tại mục điền.

Dịch nghĩa:

Hỏa vận mở ra họa lan tỏa.

Vạn người chết sau vạn người trước.

Biển nổi sóng lên sông hồ đục.

Bên ngoài nào khác với trước mắt.

Kim Thánh Thán bình chú

Tượng này dự đoán binh họa ở bên ngoài cửa, có dấu hiệu kéo dài vào bên trong cửa.

Ý nghĩa của đồ hình

Trong hình có rất nhiều xác người nằm la liệt bên ngoài cửa, ám chỉ người chết ngoài cửa. Cửa ở đây là chỉ cửa của đất nước, ngoài cửa là chỉ bên ngoài lãnh thổ, người chết ngoài cửa chính là nói chiến tranh xảy ra ở nước khác, khiến rất nhiều người tử vong. Ở đây là chỉ chiến tranh thế giới lần thứ nhất.

Ý nghĩa của bài thơ

Tượng này dự đoán xảy ra Chiến tranh thế giới lần thứ nhất ở châu Âu, chiến tranh mang lại nỗi thống khổ và tai họa nghiêm trọng cho nhân dân trên toàn thế giới, đồng thời cũng gây ảnh hưởng tới Trung Quốc.

Ngoài cửa một hươu, quân hùng tranh bắt“, ám chỉ các nước đế quốc vì muốn mở rộng địa bàn để kiếm chác lợi ích nhiều hơn nữa, nên đã tiến hành chiến tranh vũ lực. Có học giả cho rằng, “hươu” là chỉ Balkan thuộc châu Âu. Vùng Balkan tiếp giáp giữa hai châu Á và Âu, được ví là phần bụng dưới của châu Âu, nằm giữa biển Đen và Địa Trung Hải, có vị trí chiến lược vô cùng quan trọng. Do vậy, nơi đây vẫn luôn là đối tượng dòm ngó của các cường quốc phương Tây. Balkan cũng vì vậy mà được xem là “thùng thuốc nổ” của châu Âu. Chiến loạn giữa các quốc gia đương nhiên sẽ mang lại tai hoạ huỷ diệt đối với sinh vật trên khắp toàn cầu.

Họa tới cá, diều, nước sâu lửa bỏng“, “diều hâu” là chỉ các loài bay trên trời, còn “cá” là chỉ các loài vật dưới nước. Người dự đoán nói với chúng ta rằng, chiến tranh đã gây nên sự huỷ diệt đối với sinh linh, dân chúng sẽ phải sống trong cảnh nước sôi lửa bỏng

Hoả vận mở ra họa lan toả, vạn người chết sau vạn người trước” ý nói chiến tranh mau chóng lan rộng, khiến rất nhiều người thiệt mạng. Chữ “biển” trong “Biển nổi sóng lên sông hồ đục” là chỉ thế giới, còn “sông hồ” là chỉ Trưng Quốc. Chiến tranh mang tính thế giới, này sẽ ảnh hưởng tới Trung Quốc. Bản chất của chiến tranh là như nhau, dù xảy ra ở bên ngoài hay bên trong đất nước, đều sẽ gây nên tổn thất nặng nề không thể lường trước cho một dân tộc.

Ứng tượng quẻ Hỏa Lôi Phệ Hạp trong Kinh dịch

Tượng này tương ứng với quẻ Hỏa Lôi Phệ Hạp trong “Kinh Dịch”, quẻ Phệ Hạp có tượng “cắn vật trong miệng”, chỉ khi cắn đứt được vật thì hai hàm răng mới có thể khép lại, ăn uống mới có thể thuận lợi. Vật cứng ở đây vốn được ví với phần tử phạm pháp trong xã hội, còn cắn đứt vật tại được ví với việc dùng hình phạt trừng trị kẻ phá hoại, trị lý quốc gia.

Người dự đoán đã so sánh cường quốc đế quốc với vật cứng trong miệng, cường quốc phát động xâm lược dân tộc khác, tất sẽ gây trở ngại cho sự phát triển của đối phương. Chỉ khi diệt trừ được chúng, mới có thể khiến dân tộc bình yên và thịnh vượng. Về việc này, có học giả chỉ ra rằng, trong thời gian xảy ra Chiến tranh thế giới lần thứ nhất, Nhật Bản nhân cơ hội chiếm lĩnh bán đảo Giao Đông của Trung Quốc, hành động này cũng giống như là đưa dị vật vào trong miệng Trung Quốc.

Quẻ Hỏa Trạch Khuê Hào Sơ Cửu – Hào 1

Hào Sơ Cửu: “Lục tam. Phệ tích nhục ngộ độc. Tiểu lận. Vô cữu.”.

Tượng viết: “Lý giáo diệt chỉ. Bất hành dã”.

Tuy hào Sơ Cửu bị cùm chân, song kết hợp với hào Lục Nhị sẽ không gặp tai hoa. Ở đây ý nói tuy Serbia chịu sự thống trị của đế quốc Áo Hung, song phía sau vẫn được Nga trợ giúp.

Quẻ Hỏa Trạch Khuê Hào Lục Nhị – Hào 2

Hào Lục Nhị: “Lục nhị. Phệ phu diệt tị. Vô cữu.”.

Tượng viết: “Phệ phu diệt tị. Thừa Cương dã.”.

Lục Nhị ý nói ăn thịt quá nhanh tới mức mũi cắm vào giữa miếng thịt, tướng ăn tham này gây phản cảm. Hào này ám chỉ nước Đức xuất phát sau, song đã gấp rút chiếm lĩnh thuộc địa trong tình trạng kinh tế và quân sự phát triển nhanh chóng.

Quẻ Hỏa Trạch Khuê Hào Lục Tam – Hào 3

Hào Lục Tam: “Phê tích nhục, ngộ độc. Tiểu lận, vô cữu”.

Tượng viết: “Ngộ độc. Vị bất đáng dã”.

Hào này nói khi ăn thịt khô, do thịt khô để lâu nên bị biến chất, song nếu biết dừng lại không ăn, sẽ không bị ngộ độc. Hào này dự đoán nước Nga mới đầu cũng tham chiến (thuộc phe Hiệp ước), song do nước này nổ ra cách mạng trong nước, bởi vậy đã rút lui giữa chừng, nhờ vậy mà người dân Nga tránh được đau khổ do chiến tranh mang lại.

Quẻ Hỏa Trạch Khuê Hào Cửu Tứ – Hào 4

Hào Cửu Tứ: “Cửu tứ. Phệ can chĩ. Đắc kim thỉ. Lợi gian trinh. Cát”.

Tượng viết: “Lợi gian trinh cát. Vị quang dã”.

“Can chi” là chỉ thịt khô dính ở xương, thịt khô quá cứng, phải dùng tới kim loại sắc nhọn mới có thể cứa dứt được. Ở đây ý nói nước Mỹ thực lực hùng hậu tham chiến, có tác dụng quan trọng trong việc thay đổi tình thế giữa hai bên tác chiến.

Quẻ Hỏa Trạch Khuê Hào Lục Ngũ – Hào 5

Hào Lục Ngũ: “Lục ngũ. Phệ can nhục.  Đắc hoàng kim. Trinh lệ. Vô cữu”.

Tượng viết: “Trinh lệ vô cữu. Đắc đáng dã”.

Hào Lục Ngũ đến từ ở quẻ Khôn phía dưới quẻ Bĩ, Khôn tức là đất màu vàng tượng trưng ở chính giữa, ám chỉ trung dung. Ở đây ý nói mới đầu Trung Quốc có thái độ trung lập đối với chiến tranh, sau đó tham chiến trước sự xúi bẩy và ép buộc của phe đế quốc.

Quẻ Hỏa Trạch Khuê Hào Thượng Cửu – Hào 6

Hào Thượng Cửu: “Thượng Cửu. Hà giáo diệt nhĩ. Hung”.

Tượng viết: “Hà giáo diệt nhĩ. Thông bất minh dã”.

Có nghĩa là đeo gông nặng, đến tai cũng bị bịt kín, là tượng hung dữ. Hào này ở vị trí trên cùng của hào trên, là vị trí cao nhất. Ở đây ý nói nước Đức phát động chiến tranh, do đơn độc chiến đấu, cuối cùng nếm mùi thất bại phải đầu hàng.

Lịch Sử Ẩn Phía Sau Tượng quẻ 

Chiến tranh thế giới lần thứ nhất
Chiến tranh thế giới lần thứ nhất

Đại chiến thế giới thứ nhất là cuộc chiến tranh phi nghĩa mang tính chất đế quốc, điều này đã thể hiện rõ ở mục đích tham chiến của các nước.

Vào cuối thế kỷ 19, để đẩy mạnh phát triển Chủ nghĩa tư bản trong nước, đa số các cường quốc châu Âu đều bị cuốn vào cuôc cạnh tranh về thuế quan và thị trường nước ngoài. Thực lực quân sự và kinh tế của nước Anh ngày càng lớn mạnh, nước Anh được mệnh danh là “đế quốc mặt trời không bao giờ lặn”. Tuy nhiên vị trí bá chủ này của nước Anh đã mau chóng gặp phải sự uy hiếp của nước Đức.

Vào cuối thế kỷ 19, công nghiệp Đức phát triển nhanh chóng, trở thành đối thủ cạnh tranh của nước Anh. Tuy nước Anh chiếm được ưu thế nhất định trên vùng thuộc địa, song ở châu Mỹ La Tỉnh, Trung Đông và Viễn Đông đều đã thất bại trước các thương nhân Đức hiếu chiến. Bởi vây, quan hệ giữa hai nước ngày càng trở nên căng thẳng.

Vì muốn chiếm lĩnh vị trí số một trên thế giới, hai nước triển khai chạy đua về quân sự. Nước Đức đi sau, song rất chuyên tâm phát triển quân sự, tuy nhiên họ lại ngạc nhiên thấy rằng, kế hoạch này luôn bị cản trở bởi các thuộc địa của Anh. Trong thời kỳ chủ nghĩa tư bản phát triển nhanh chóng, không chỉ có cuộc tranh đua giữa Anh và Đức, mà hầu như mọi cường quốc châu Âu đều lao vào vòng xoáy này. Thế là xung đột từ phạm vi nhỏ dần dần lan rộng khiến chiến tranh bùng nổ.

Sự tranh đua gần như điên cuồng này rất dễ dẫn đến hợp tác vì lợi ích chung. Để làm mạnh mẽ thêm thực lực của mình, một số cá thể có lợi ích giống nhau sẽ tập hợp lại cùng đứng về một phe, trở thành một liên minh hoặc tập đoàn. Khi mâu thuẫn và xung đột không thể hoà giải, các liên mình hoặc tập đoàn này sẽ mau chóng phát động chiến tranh.

Ví dụ khi chiến tranh nổ ra vào năm 1914, một viên chức người Đức đã bình luận rằng: “Tất cả đều bắt nguồn từ hệ thống liên minh chết tiệt này, chúng là mầm mống gây họa”.

Trước chiến tranh, trên thế giới có hai liên minh lớn: nước Đức, đế quốc Áo Hung và Italia kết thành ba nước Đồng Minh. Nước Pháp, Anh và Nga kết thành ba nước Hiệp Ước. Từ đó, châu Âu được phân chia thành hai doanh trại lớn. Cả hai “doanh trại lớn” này đều hung hăng hiếu chiến, chỉ cần có một chút khiêu khích nhỏ, sẽ lập tức châm ngòi cho cuộc chiến tranh mang tính thế giới.

Vào ngày quốc khánh của Balkan, ngày 28 tháng 6 năm 1914, thái tử của đế quốc Áo Hung Franz Ferdinand cùng vợ là Sofia tới chúc mừng nước này. Ông muốn vợ được hưởng vinh dự dành cho hoàng thất mà bà vốn không được hưởng ở Vienna, song ông không ngờ rằng, dù xung quanh họ lúc nào cũng có ít nhất 6 binh sĩ mang theo súng và lựu đạn để bảo vệ, song cuối cùng bà Sofia vẫn không thể được đón nhận vinh quang này. Họ đã bị ám sát, ông bị bắn vào cổ, còn vợ ông bị bắn vào bụng, hai người đã chết trên đường đưa tới bệnh viện.

Người ám sát thái tử Franz Ferdinand và vợ ông là một thanh niên người Serbia tên là Princip. Khi được thẩm vấn, hắn tỏ ra rất bình thản, hơn nữa còn thẳng thắn nói rõ động cơ ám sát và suy nghĩ của mình trước đông đảo người có mặt:

“Tôi không hề hối hận một chút nào về việc mình đã làm, bởi lẽ tôi tin chắc rằng, người mang tai hoa lớn nhất cho chúng tôi cuối cùng đã bị tiêu diệt. Tôi đã làm được một việc tốt cho dân tộc tôi… Tôi đã tận mắt chứng kiến cuộc sống của dân tộc chúng tôi ngày một sa sút đi, là con trai của một nông dân, tôi biết rất rõ những gì xảy ra trong thôn chúng tôi… Tất cả đều đã gây ảnh hưởng lớn đối với tôi, hơn nữa, tôi còn biết một sự thực là, thái tử Franz Ferdinand là người Đức, ông ta là kẻ thù của dân tộc Slavic… Để ông ta lên làm vua, chắc chắn ông ta sẽ ngăn cản sự đoàn kết của chúng tôi, hơn nữa ông ta sẽ còn thực thi một loạt cải cách phản đối lợi ích của chúng tôi”…

Nói tới đây, không thể không trình bày một chút về tình hình các dân tộc thiểu số châu Âu vào cuối thế kỷ 19. Họ ngày càng ý thức rõ về dân tộc mình, chủ nghĩa dân tộc liên tục nâng cao. Serbia xây dựng chính quyền độc lập trên vùng Balkan, trở thành trung tâm phản đối chính trị nước ngoài, giành quyền thống nhất dân tộc cho người Slavic ở phía nam. Trong nước Serbia liên tục xuất hiện các đoàn thể yêu nước, họ từng nhiều lần phát động phong trào chống Áo. Princip chính là thành viên trong một tổ chức bí mật có tên là “bàn tay đen” (black hand) của Serbia.

“Bàn tay đen” chỉ có một mục đích, chính là đoàn kết người Serbia, đồng thời giương cao khẩu hiệu “thống nhất hay là chết”. Tổ chức này xưa nay không chủ trương tiến hành tuyên truyền một cách lý tính, mà luôn hướng tới hành động khủng bố. Bởi vậy, tổ chức này cũng bảo vệ nghiêm ngặt thành viên của mình.

Tổ chức này mỗi khi tiếp nhận một thành viên mới, đều sẽ tiến hành trong phòng bí mật. Trong phòng này chỉ có một chiếc bàn trải vải đen, bên trên đặt một cây thánh giá, một con dao găm và một khẩu súng lục. Trên phù hiệu của tổ chức ‘Bàn tay đen“ có khắc một bộ xương, một quả lựu đạn, một bình thuốc độc và một con dao găm.

Hành động ám sát thái từ Franz Fendinand đã được tổ chức này bí mật lên kế hoạch từ trước. Đáng nói là, tuy “thích khách“ đã bị bắt. Song hành động của họ đã giành được thắng lợi. Tuy nhiên, sự kiện này đã bị đế quốc Áo, Hung lợi dụng, kiếm cớ phát động chiến tranh nhằm vào Serbia. Phía sau Serbia có nước Nga hậu thuẫn, mà sát cánh cùng Nga còn có Anh và Pháp. Cũng giống như vậy, đế quốc Áo Hung cũng có sự trợ giúp của Đức.

Ngày 28 tháng 1 năm1914, đế quốc Áo Hung tuyên chiến với Serbia.

Ngày 30 tháng 7, nước Nga điều binh viện trợ Serbia

Ngày 1 tháng 8, nước Đức tuyên chiến vói Nga.

Ngày 3 tháng 8, nước Đức tuyên chiến với Pháp.

Ngày 12 tháng 8, nước Anh tuyên chiến với đế quốc Áo Hung.

Đại chiến thế giới lần thứ nhất bùng nổ.

Phe đồng minh tiến vào Bapaune, Pháp năm 1917
Phe đồng minh tiến vào Bapaune, Pháp năm 1917

Thời kỳ đầu, phe Đồng Minh chiếm ưu thế trong chiến tranh, nhưng sau đó, tình thế đã đảo ngược. Năm 1915, do nước ltalia thu được lợi ích từ Pháp Anh nên đã chuyển hướng đứng về phe Hiệp Ước, tuyên chiến với các nước Đồng Minh. Tuy thực lực của Italia không quá mạnh, song cũng đã giáng một đòn mạnh mẽ vào đế quốc Áo Hung.

Tình thế đảo ngược còn do một nguyên nhân khác quan trọng hơn, đó chính là sự tham chiến của Mỹ. Khi chiến tranh mới nổ ra, Mỹ không chủ trương tham gia chiến tranh. Tổng thống Mỹ Nixon khi đó còn kêu gọi đồng bào đứng ở vị trí trung lập: “Tôi muốn nhắc nhở mọi người rằng, chúng ta không thể vì thiên vị một bên nào mà có hành động phá hỏng vị trí trung lập. Tương lai sẽ là những ngày kiểm chứng linh hồn của con người. Nước Mỹ không chỉ cần thế hiện rõ vị trí trung lập trên danh nghĩa mà còn trong cả thực tế”. Tuy nhiên, sự việc sau đó đã thay đổi.

Trước hết, về mặt kinh tế, Mỹ đã chịu sự bó buộc của các nước Hiệp Ước, tiếp đến, vào năm 1971 nước Đức đã thực thi chính sách “đánh tàu ngầm không hạn chế”, điều này đã ảnh hưòng nghiêm trọng tới lợi ich của Mỹ.

(đánh tàu ngầm không hạn chế tức là dù là tàu của nước nào, chỉ cần ra vào vùng biển Anh đều có thể bị nước Đức đánh chìm, điều này gây bất lợi cho thuyền buôn của nước Mỹ).

Điều này đã dẫn tới quan hệ Mỹ Đức trở nên tồi tệ. Sau đó. Nixon đã có phát biểu về chiến tranh như sau: Chúng tôi rất vui mừng ủng hộ chiến tranh giải phóng các dân tộc và mang lại hoà bình cho thế giỏi. Chúng tôi chắc chắn sẽ không có hành động gây hại nào đối với dân chủ. Chúng tôi không mong muốn chinh phục, cũng không mong muốn chi phối. Chúng tôi chẳng qua chỉ muốn làm một vệ sĩ bảo vệ quyền lợi cho nhân loại”.

Sau bài phát biểu này, nước Mỹ chính thức tuyên chiến với Đức. Đối với Đức, Mỹ quả là một kẻ thù đáng gớm. Sau khi Mỹ tham chiến, rất nhiều nước châu Mỹ La Tinh cũng đã lần lượt tuyên chiến với các nước Đồng Minh. Kết quả là phạm vi chiến tranh lần này ngày một lan rộng, thực sự trở thành cuộc chiến mang tầm cỡ thế giới.

Ngoài Mỹ, còn Nhật Bản tham gia cuộc chiến. Có thế nói, mục đích tham chiến của Nhật Bản chính là trục lợi. Mục tiêu lớn nhất của Nhật Bản khi đó là Trung Quốc và châu Á. Do Đức chiếm tỉnh Sơn Đông của Trung Quốc, nên Nhật Bản đã gia nhập phe Hiệp Ước để tuyên chiến với Đức nhằm giành lấy quyền lợi tại Sơn Đông từ tay Đức. Sự tham chiến của Nhật Bản dẫn tới sự phản đối quyết liệt của người dân Trung Quốc.

Bản thân chuyện “có tham chiến hay không” cũng đã gây nên bất đồng quan điểm trong nội bộ quân phiệt Bắc Dương, từ đó hình thành nên hai phái, tức là phái chủ chiến do Đoàn Kỳ Thụy đứng đầu và phái chủ hòa do Lê Nguyên Hồng đứng đầu. Đoàn Kỳ Thụy đảm đương chức thủ tướng Bắc Dương, còn Lê Nguyên Hồng giữ chức tổng thống nên trong lịch sử đã gọi cuộc đấu tranh giữa hai phái này là “phủ viện chi tranh”.

Kết quả là, nhờ có sự giúp đỡ của Anh Pháp, Đoàn Kỳ Thụy đã chiến thắng Lê Nguyên Hồng, tuyên chiến với Đức.

Cục thế chiến tranh ngày một rõ ràng, phe Hiệp Ước đã chiếm thế thượng phong. Sau đó, do tham gia chiến tranh mà các nước đồng minh của Đức lần lượt gặp khủng hoảng kinh tế, đua nhau cầu hòa phe Hiệp Ước. Nước Đức lúc này ở vào tình cảnh cô lập (ở Nga nổ ra cuộc cách mạng vào năm 1917 nên Nga đã rút khỏi chiến tranh). Rất nhanh sau đó, nội bộ Đức cũng xảy ra chính biến. Đứng trước áp lực mạnh mẽ, Đức chỉ còn nước cầu hòa. Tới đây, cuộc Chiến tranh thế giới lần thứ nhất đã kết thúc với thắng lợi thuộc về phe Hiệp Ước.

Chiến tranh kết thúc, tiếp đến là sự “phân chia chiến lợi phẩm” của các đế quốc. Hội nghị nhằm “phân chia chiến lợi phẩm” được khai mạc ở Paris nước Pháp, chính là Hội nghị hoà bình Paris trong lịch sử. Tổng thống Mỹ Nixon chủ trương đối xử khoan dung với nước Đức, trong khi đó nước Pháp lại căm thù Đức sâu sắc, bởi vậy Pháp yêu cầu phải trừng trị Đức nghiêm khắc. Tuy nước Đức chiến bại đã phải trả giá rất đắt, song trong hội nghị lần này lại chưa thể tìm ra hình phạt xứng đáng cho các tội phạm chiến tranh của Đức.

Chính điều này là mầm mống gây nên chiến tranh thế giới trên quy mô rộng hơn vào thế kỷ 20 do Đức khởi xướng.

Vì tham gia chiến tranh nên Trung Quốc cũng có mặt trong hội nghị này với tư cách là nước chiến thắng. Khi đó cả nước Trung Quốc chìm đắm trong niềm vui thắng lợi. Họ ngây thơ cho rằng thời kỳ nhục nhã kể từ sau chiến tranh Nha phiến sắp kết thúc, Hội nghị hoà bình Paris nhất định sẽ trả lại cho họ sự công bằng. Tuy nhiên, giấc mơ ngây thơ này của họ đã mau chóng bị dập tắt. Các cường quốc trong Hội nghị hoà bình Paris đã không đếm xỉa tới lợi ích của Trung Quốc, trao quyền lợi của nước Đức ở Sơn Đông cho Nhật Bản.

Sau khi tin tức được truyền đi, khắp đất nước Trung Quốc dấy lên làm sóng phẫn nộ. Chính trong bối cảnh này đã nổ ra phong trào yêu nước ngày 4 tháng 5 ( phong trào Ngũ Tứ ). Tuy sau đó Trung Quốc phải chịu đựng sự bóc lột và áp bức của chủ nghĩa đế quốc suốt trong một thời gian dài, song cùng với sự xuất hiện của phong trào này, Trung Quốc cũng đã đón chào một thời đại mới.

Comment ngay nếu có gì thắc mắc về Quẻ Hỏa Lôi Phệ Hạp để nhận giải đáp trực tiếp từ Ad nhé !!!

(Series bài viết Hướng dẫn tự học Kinh Dịch Tại chuyên mục Giáo Dục dành cho Newbie được viết bởi Phú Hà

Để trở về trang chủ mời quý khách Click Tại Đây)

1 BÌNH LUẬN

BÌNH LUẬN

Please enter your comment!
Please enter your name here